|
CON
TÀU TRƯỜNG XUÂN
Nam Lộc kể
Có
con tầu nằm trên bến đỗ...
Ngày xưa tại Việt Nam gần như chỉ
có 1 hãng thương thuyền hàng hải
lớn nhất là Vishipcoline của chủ
nhân Trần đình Trường. Hiện ông Trường là nhà tư
bản có nhiều tài sản và hotel tại
Nữu Ước.
Thuyền trưởng Phạm Ngọc Lũy.
Một trong các thương thuyền của hãng
là tàu Trường Xuân, vị thuyền trưởng
lúc đó là ông Phạm Ngọc Lũy. Ông
Lũy sinh quán tại Nam Ðịnh, ra đời
năm 1919. Vào tháng 5-1975 thuyền trưởng
Phạm Ngọc Lũy đã có 30 năm kinh
nghiệm hàng hải.
Ngày 26 tháng 4 năm 1975, Trường Xuân
đã xuống hàng hoàn tất chuẩn bị
chở sắt vụn đi Manila. Một chuyến
đi vô thưởng vô phạt. Thuyền trưởng
Phạm Ngọc Lũy lúc đó 56 tuổi,
Bắc kỳ di cư, quyết không ở lại
sống với cộng sản. Ông tìm đường
ra đi bằng mọi giá. Ông ước mong dùng
được Trường Xuân chở đồng bào
tỵ nạn. Trên đống sắt vụn của
Trường Xuân lần này phải là sinh
mệnh của những con người. Ông
cần có thủy thủ đoàn và ông cần
cả hành khách. Trải qua bao nhiêu là
gian nan phức tạp vào cái tuần lễ
cuối cùng của cái tháng 4 đen oan
nghiệt. Sau cùng tới 29 tháng 4-1975
thuyền trưởng Phạm Ngọc Lũy viết
lên tàu hàng chữ định mệnh. Tàu
Trường Xuân khởi hành 12 giờ trưa
30/4/75.
Lúc đó thủy thủ đoàn gần 30 người
nhưng ông chỉ có vỏn vẹn 5 người.
Có lẽ ông cần chừng 300 hay 400
hành khách, nhưng chưa có người nào.
Con tàu Trường Xuân ngủ yên trên
bến Saigon giữa đêm 29 rạng ngày 30
tháng 4-1975.
Saigon hấp hối
Tại Saigon mặt trận Long Khánh đã
tan vỡ, tất cã 3 quân khu đều nằm
trong tay giặc. Chỉ còn miền Tây
vẫn yên tĩnh. Sáu sư đoàn cộng quân
3 mặt tiến về Saigon. Các đơn vị
pháo của Bắc quân đã chuẩn bị
trận địa pháo vào thủ đô. Các
tiền sát viên chỉ điểm cộng sản
đã có mặt tại các vị trí quân
sự.
Phi cơ trực thăng Hoa Kỳ đang bay di
tản những phi vụ cuối cùng. Nội các
mới của Việt Nam Cộng Hòa họp bàn
về việc bỏ súng và bàn giao. Ðài
phát thanh Saigon chuẩn bị đọc
những lời tuyên bố đau thương
của tổng thống Dương văn Minh gửi
người anh em phía bên kia , xin mời vào
nói chuyện. Thủ tướng Vũ văn Mẫu
kêu gọi người anh em đồng minh Hoa
Kỳ phía bên này, xin vui lòng ra đi.
Giữa mùa hè chói chang, radio của quân
đội Hoa Kỳ chơi bài Tuyết Trắng,
một ám hiệu kêu gọi ra đi lúc trái
gió trở trời. Ðài quân đội Việt
Nam Cộng Hòa hát nhạc quân hành
trong tuyệt vọng.
Ðó là Saigon của đêm 29 rạng ngày
30 tháng 4-1975. Con tầu Trường Xuân
bụng đầy sắt vụn vẫn nằm ngủ
yên trên bến sông Khánh Hội. Lửa
bắt đầu bốc cháy bên kho đạn Thành
Tuy Hạ.
Cô gái thuyền nhân trong bụng mẹ
Cũng vào cái tuần lễ sau cùng của
tháng 4 nghiệt ngã đó, có bà sản
phụ vào nhà thương ngày 27/4/1975 để
chuẩn bị sanh đứa con thứ hai.
Bà dược sĩ trẻ tuổi có mang 9 tháng
10 ngày. Ðứa bé sẽ ra đời bất
cứ lúc nào. Bây giờ tính sao đây.
Xin mổ để sanh sớm rồi chạy, hay
là tìm đường chạy rồi muốn ra
sao thì ra. Chợt có được giấy phép
di tản bèn bỏ nhà thương vào tòa
đại sứ Mỹ. Nhưng rồi máy bay không
trở lại. Cộng sản vào đến cửa
ngõ Saigon. Gia đình tìm đường
xuống Khánh Hội. Tìm ghe chạy ra tàu
Trường Xuân sáng 30 tháng 4-75. Bà
bầu cùng gia đình, mẹ già, con trai
nhỏ 2 tuổi leo giây lên Trường Xuân.
MS Clara Maersk (Denmark) Mother and
children.
Gia đình bà dược sĩ Saigon, mới ra
trường năm 1972 đã thành những người
khách không mời của chuyến hải hành
vô định trên tàu Trường Xuân, ra
đi xế chiều 30 tháng 4-1975.
Ðứa bé gái hoài thai từ Saigon tự
do, nhưng gan lì nằm trong bụng mẹ
hay sợ súng đạn nên không chịu chào
đời. Cho đến khi Trường Xuân ra đến
hải phận quốc tế. Ðứa bé mới
chịu ra đời. Ðó là câu chuyện 34
năm trước viết lại cho ngày kỷ
niệm 35 năm sau vào tháng năm 2010.
Trở lại với Trường Xuân
Vào chiều 30 tháng 4-1975, con tàu Trường
Xuân sau khi đã thành lập xong 1
thủy thủ đoàn tình nguyện và có
gần 4,000 hành khách ngẫu nhiên đã
lên đường hết sức vất vả trong
điều kiện kỹ thuật tồi tệ và
bị phá hoại mọi bề.
Hành khách không vé của Trường Xuân
gồm đủ tất cả hai ba thế hệ
Việt Nam Cộng Hòa, mọi thành phần,
mọi giai cấp, mọi hoàn cảnh. Ðủ
cả ba ngành lập, hành và tư pháp. Có
mặt sĩ nông công thương binh. Không
hề thiếu nam phụ lão ấu. Các
nghệ sĩ sáng tác và nghệ sĩ trình
diễn. Chuyến hải hành vào chân
trời vô định với một ông thuyền
trưởng nhân đạo và hết sức kiên
định. Những tay phụ tá tình
nguyện rất xuất sắc và sau cùng định
mệnh đã đưa 3,628 con người đi tìm
tự do đến được bến tự do.
Thuyền trưởng Phạm Ngọc Lũy đã nói
rằng Trường Xuân sẽ không thoát
được nếu không có Song An. Song An là
ai ? Ðây chỉ là tên con tàu kéo
nhỏ bé đang trên đường từ Vũng Tàu
về cảng Saigon. Anh già Trường Xuân
đang mắc cạn bèn túm lấy đứa bé
Song An đòi nó kéo. Vậy mà nó kéo
được. Ra đến hải phận, cho đến
lúc anh già Trường Xuân tự chạy
được bác cháu mới chia tay. Lẽ dĩ
nhiên câu chuyện hải hành của đêm
dài 30 tháng 4-75 không giản dị như
thế ! Với lửa cháy ngập trời Thành
Tuy Hạ và tiếng súng đuổi theo trên
sông Lòng Tào, đêm hôm đó là đêm
dài nhất của cuộc đời Trường Xuân.
Khi anh già Trường Xuân từ giã cậu
bé Song An trên đại dương, khách Trường
Xuân góp tiền cho Song An trở về
Saigon. Hai, ba bị tiền hàng chục
triệu đồng Việt Nam đưa qua. Lái tàu
Song An nói 1 câu kỳ diệu “ Thôi !
tiền nhiều quá, đủ rồi. Ðừng
đưa nữa “.Trong đời chúng ta
hiếm khi nào nghe được những lời
nói đó.
Với tâm tình như vậy, tàu kéo Song
An từ giã Trường Xuân. Tiếng còi
tạm biệt trên trùng khơi nghe những
nghẹn ngào.
Có vài hành khách bỏ Trường Xuân
nhẩy theo Song An trở về Saigon. Trên
3,600 khách Trường Xuân ngó theo Song
An nhỏ dần trên đường trở lại
quê hương. Khóe miệng chợt thấy
vị mặn. Ðây là nước biển sóng
đánh bên thành tàu hay là nước
mắt biệt ly.
Rồi con tàu Trường Xuân chạy 1 mình.
Gần 4,000 hành khách. Không đủ nước,
không có thức ăn. Máy móc trục
trặc. Nước tràn vào khoang tàu.
Sắt vụn vô tri dưới hầm tầu. Con
người tuyệt vọng ở trên boong.
Hai người tự tử được thủy táng.
Việt cộng phá hoại chỗ này. Máy tàu
hư hỏng chỗ kia.
Con tàu vô định có thể sẽ là quan
tài nổi. Một hỏa diệm sơn chưa
nổ. Các tin tức bi quan được lệnh
của thuyền trưởng phải dấu kín.
Trường Xuân nín thở, ỳ ạch tiếp
tục chạy. Chợt có tiếng kêu : “Có
người rớt xuống biển.”
Ông thuyền trưởng Nam Ðịnh đứng
im trên đài chỉ huy lặng người
bất động. Nửa giờ trôi qua như 1
thế kỷ. Captain Phạm ngọc Lũy sau cùng
ra lệnh quay tàu lại vớt người.
Một quyết định vô vọng. Hành khách
nói. Một quyết định sai lầm. Hành
khách nói. Hy sinh 4,000 người để
cứu 1 người là nhầm lẫn. Hành khách
nói. Captain điên rồi.

Tại sao ? Thuyền trưởng sau này
trả lời. Tìm vớt 1 người để
cứu 4,000 người.
Như vậy có thể hiểu rằng con tàu
Trường Xuân đang là một hỏa diệm
sơn sẵn sàng phun lửa nổi loạn. Hành
động bình tĩnh quay tầu lại tìm 1
người là bài học nhân đạo cho
mọi người và giữ cho được sự bình
an của toàn thể con tàu.
Có thể Thượng Ðế trên cao đã nhìn
thấy chuyện vớt người giửa biển
của Trường Xuân nên đã đem lại
vị cứu tinh số hai. Ðó là con tàu
Ðan Mạch. Tiếng Trường Xuân kêu
cứu vọng trên đại dương. Tàu Ðan
Mạch trên đường viễn du hỏi
rằng thế đã kêu hạm đội Mỹ chưa?
Trả lời : “Có số đâu mà kêu.”
Ðan Mạch thở dài. “Thôi chờ đó,
chúng tôi sẽ đến tiếp tế và rước
chừng 1,500 đàn bà trẻ con.”
Ra đời giữa trời biển mênh mông
Trước đó vài giờ đồng hồ, sáng
ngày 2/5/75, bà dược sĩ họ Bùi đau
đẻ. Gần 4,000 con người phải
chừa ra 1 chỗ trống cho sản phụ.
Ðứa bé gái ra đời khoảng 2 giờ sáng.
Con bé gốc Saigon Việt Nam, nằm trong
bụng mẹ trên Trường Xuân, được
kéo đi bởi Song An. Sanh ra giữa
biển Ðông, Thái bình dương. Không
sữa, không nước, không cơm, không
cháo. Một người dúi vào tay sản
phụ miếng cam thảo.
Bà nhai ra rồi lấy nước miếng bôi
vào miệng con gái. Tiếng khóc chào
đời vang trên biển rộng mênh mông.
Một thanh niên nhấc bổng đứa bé
đưa qua tàu Ðan Mạch. Bà mẹ nhìn
theo bóng con vươn lên trời xanh, nước
mắt một lần nữa lại như vị
mặn của biển khơi.
Khai sanh của cháu đề ngày 2/5/1975
trên tàu Ðan Mạch, tên cháu là Chiêu
Anh.
Trường Xuân: Ôi, Trường Xuân !
Như vậy là tổng cộng ba ngàn sáu
trăm hai mươi tám người đến bến
tự do, bây giờ định cư ở bốn phương
trời. Một thế hệ Trường Xuân ra
đời và nối tiếp.
Thoạt tiên tất cả được đưa về
tạm trú ở Hồng Kông. Nhà chức trách
Hương Cảng hứa sẽ không trả
về Việt Nam.
Trước khi rời con tàu, thuyền trưởng
Phạm Ngọc Lũy đi thanh sát một vòng.
Hình ảnh cảm động sau cùng là
một người đàn ông mệt mỏi cúi
xuống cõng bà mẹ già tê liệt. Trên
khoang tàu mênh mông hiện chỉ còn là
bãi rác. Một người đàn ông ạch
đụi cõng mẹ qua tàu Ðan Mạch,
quả thực là hình ảnh hết sức
ngậm ngùi. Ðó là ông thiếu tá
nhẩy dù Phan Huy Hoàng, sau này đưa
mẹ về định cư tại Texas.
Khi vị thuyền trưởng rời tàu Trường
Xuân thì nước đã tràn vào khoang máy.
Vẫn còn dưới hầm, thân xác 1 ông
già sẽ thủy táng theo con tàu.
Nhưng sau này được biết, khi người
lên hết tàu Ðan Mạch, Trường Xuân
ngập nước nhưng không chìm. Hai tháng
sau được kéo về Hồng Kông, đi
theo hành khách của nó.
Con rể của ông già nằm trên Trường
Xuân đã nhận xác cha. Di hài vị dân
biểu gốc Nùng của Việt Nam Cộng Hòa:
Ðại tá Wong A Sáng của sư đoàn 5
bộ binh, một thời đồn trú tại Sông
Mao. Con người và con tàu, cả hai đều
làm xong nhiệm vụ cuối cùng cho hai
chữ tự do.
Một thế hệ tương lai
Bà dược sĩ trẻ tuổi họ Bùi bây
giờ định cư tại Montreal, Canada và
học lại nghề cũ từ 1977. Pharmacie
BUI tại Gia nã Ðại có từ ngày đó.
Ðứa bé gái Chiêu Anh ra đời giữa
Thái Bình Dương tháng 5-75, hai mươi
tư năm sau vẽ 1 bức tranh họa cảnh
tàu Trường Xuân nộp cho trường đại
học Park
son school of Design, New York. Cô được nhận vào học và
tốt nghiệp danh dự với huy chương
vàng về ngành sáng tạo y phục
thời trang. Hiện Chiêu Anh còn độc
thân và làm việc tại San Francisco
Hoa Kỳ. Trong một bản văn tự
thuật bằng Anh ngữ, Chiêu Anh kể
chuyện mình như sau.
“Con là Trường Xuân Baby. Từ biển
cả, con là một thuyền nhân sống sót.
Khi Sài Gòn thất thủ, cha mẹ chạy
xuống tầu Trường Xuân của thuyền
trưởng Phạm Ngọc Lũy. Trong cái đêm
dài sâu thẳm, vào lúc 2 giờ sáng 2
tháng 5-75 con sanh ra đời. Ðó là giây
phút của hãi hùng và hy vọng. Ðời
con khởi sự vất vả. Mắt hài nhi
không mở. Xương quai bị gẫy, vai
bị cụp. Mẹ đói không có sữa cho
con. Vị cam thảo ngọt bôi vào
miệng sơ sinh vẫn còn ghi nhận cho
đến ngày nay. Tầu Danish của
thuyền trưởng Ðan Mạch Anton Martin
Olsen đã cứu gia đình con và đưa vào
nhà thương Anh Quốc tại Hồng Kông.
Khai sanh của con với chứng chỉ công
dân Denmark trên tầu MS Clara Maersk. Vì
những giấy tờ này, tòa đại sứ
Ðan Mạch lo cho cả gia đình định cư
tại Canada trong 21 ngày. Con đã tiếp
tục sống trong những ngày thơ ấu
khó khăn vất vả như những gia đình
tỵ nạn khác. Cùng với người anh hơn
con 2 tuổi, chúng con cố sức học hành
để xây dựng tương lai. Con xin được
học bổng để theo ngành sáng tạo
thời trang và tốt nghiệp 1998 với
bằng danh dự tại đại học hàng đầu
New York. Con bắt đầu làm việc cho các
hãng thời trang nổi tiếng tại
Paris, New York và San Francisco. Con đã
có dịp đi đến tất cả các đô
thị lớn nhỏ từ Âu châu, Á châu,
Mỹ châu trong thế giới của ngành sáng
tạo thời trang. Nhưng con luôn luôn
nhớ rằng mãi mãi vẫn là một
thuyền nhân sống sót, một Trường
Xuân Baby.”
|