|
|
|||
|
|||
|
Vượt biển (ảnh tư liệu) |
|||
ĐƯỜNG LÊN THIÊN ĐÀNGAnh Tạo vừa báo công việc ngày mai cho Đội xong là trật tự khoá cửa Nhà 3 ngay. Đó là lệ thường. Buổi chiều, sau khi lao động về, anh em lãnh cơm, “hâm nấu” rồi tụ nhau từng nhóm, “chén anh chén bác”. Trong cảnh tù tội, người ta dễ gần nhau hơn, có lẽ thông cảm nhau và cũng là một nhu cầu, để vơi bớt nỗi cô đơn. Từng nhóm 5, 3 người ăn chung với nhau, thức ăn thăm nuôi chia sẻ với nhau để tạo chút ít không khí “gia đình”. Hơn năm chục con người sắp lớp trong căn nhà dài chừng 20 mét, người nọ liền người kia. Sạp làm bằng cây Chà Rang, lúc đầu đau lưng chịu không nổi, mãi sau mới quen dần. Nội qui 9 giờ tắt đèn ngủ, anh em “tranh thủ” làm việc riêng, người viết thư, kẻ đánh cờ, hoặc bàn chuyện thế sự. Cạnh tôi hai anh than thở: - Mai lại cuốc Bình Sơn, đất gì mà cứng như đá. - Mà cái ông Tạo cũng hay, không Đội nào ổng cho “sướng” vài bữa. Chặt mía hai hôm là đi cuốc. Cứ nghĩ, chẳng may bốc phải cái cuốc nặng như cùm thì chết một cửa tứ. Lại thêm ông nội A Coóng, nó cuốc như chạy đua, làm mình theo hụt hơi. - Đã nhiều lần nói nó cuốc từ từ với anh em mà nó có nghe đâu, nó bảo “lao động tốt, học tập tốt, mau về”. A Coóng là thanh niên Hongkong, làm ăn xui xẻo thế nào mà nhè mấy ngày tháng 3 – 75 qua Việt Nam mua cá khô. Sau 30 tháng 4, anh kẹt lại rồi bị dụ khị ra Nha Trang, người ta bảo A Coóng ra đấy sẽ có tàu về Hongkong. A Coóng tin tưởng chung tiền. Đến Nha trang A Coóng được công an đón vào trung tâm thẩm vấn. A Coóng học tiếng Việt khá nhanh, ai nói xấu hay có ý đùa gạt A Coóng biết hết, nhưng khi lầm lỗi bị cán bộ “xài xể” A Coóng cứ ngớ ngớ “ Cáng pộ lói cái gì”. Mấy ông công an nghe anh Tàu ú ớ lọng ngọng một hồi hết cả hứng thú thuyết giảng đành ra lệnh “thôi cuốc đi”. Vậy là A Coóng cắm đầu cuốc chí mạng. Anh em theo hụt hơi. Thế nhưng có được về sớm đâu, cũng 2 năm 6 tháng như tôi, ngày 19 tháng 5 – 79 mới rời ghế “nhà trường” cải tạo. - Này, ông biết ông Tạo kỹ thuật trước làm gì không? - Nghe nói là Đại Uý Quận Trưởng. - Thằng cha giỏi dữ. - Giỏi cái gì? - Ông không thấy hả, chả thuộc lòng từ đất đai, cuốc cày, đến con người. Tui không khi mô thấy chã ghi chép mà cứ trong ruột đọc làu làu. Tôi cũng thấy điều đó, Tạo người cao, lỏng khỏng, mặt xương ít nói, lầm lì, đi bao giờ cũng nhìn gằm gằm xuống đất. Anh được Ban Giám Thị trại giao cho trách nhiệm tổ chức, điều khiển toàn bộ đời sống của trại. Hằng ngày, mặc bộ ba ba đen, anh lầm lũi đi qua những nơi anh em tù lao động. Không thấy anh ghi chép, hỏi han. Vậy mà mỗi tối, sau bữa cơm chiều, anh đến từng nhà giao công việc ngày hôm sau. “Đám bắp chưa bẻ hết, đội 5 tiếp tục”, “Đám ruộng trên Kho chưa cuốc xong, ngày mai Đội 3 thanh toán”. Tuỳ lượng công việc, anh chia Đội nào là vừa Đội đó , có sớm cũng chỉ năm mười phút chứ không nhiều. Cung cách làm việc cũng như tướng mạo, anh đúng là con người cộng sản, nhận xét chung là thế. Nhưng, anh rất tốt, rất hiền và rất tếu. Anh chưa hề to tiếng nạt nộ ai. Anh không lợi dụng vị thế để ăn hiếp ai, tôi chưa thấy anh hút của ai một điếu thuốc hoặc cầm của ai một món quà. Anh có tính khôi hài lạnh tanh. Một lần anh đi qua thấy tôi ngồi buộc cái chổi, anh nói tỉnh bơ: “Anh làm nghề lái gió hả”. Anh đi rồi tôi nhìn xuống chợt thấy cái quần rách chưa vá. Có khi anh nói một câu giọng Quảng Nam làm anh em không nhịn được cười: “Nó cho nem trem boạc mòa nó chơi roác roạc”, “ Béng roác roạc mòa cứ hô xung pheeng, xung pheeng”. Anh là một trong những người tù tôi nể, nể vì tài ba và tư cách, một con người hiếm hoi, có lẽ vì vậy mà qua bao nhiêu đợt tha, anh vẫn không được về. Khi quá tốt, lại trở thành xấu. Hôm đó, sau khi anh Tạo “báo công” một lát thì nghe tiếng mở khoá, anh em dừng tất cả các hoạt động và dồn mắt về phía cửa ra vào. Mỗi nhà chỉ có một cánh cửa vào ra ngay giữa, 7 giờ điểm danh xong là cửa khoá. Đã đến giờ ngủ còn mở làm gì. Cánh cửa vừa bung, hai anh trật tự vào, tiếng hô dõng dạc: “Tất cả dọn tư trang ra sân, trong vòng 5 phút. Những người có tên sau đây ở lại: Nguyễn văn Luận, A Huy, Trần Công Nhung”. Không khí hoang mang trùm lên Nhà 3, không một ai hiểu chuyện gì. Sao lại chuyển trại nửa đêm. Sao không đi hết mà Nhà Trưởng và Trực Trại ở lại? Trong tù, chuyện gì riêng cũng đáng sợ. Đi đâu, cả đám không sao, kêu lẻ một hai là ngán lắm. Đúng 5 phút tất cả mọi người ra sân với hành trang trên lưng như lính sắp ra trận. Còn lại ba chúng tôi, lo nơm nớp, cố đoán mà không sao biết chuyện gì. Đoàn người ngoài sân được dẫn đi một lúc thì 2 anh Trật Tự trở lại với một đống mùng màn và nói một câu gọn lõn: “Một đám vượt biển, bầy hầy lắm”. Chúng tôi bắt đầu bàn tán: “Vượt biển sao đến giờ này”, “Thường, xe vẫn chở người tới vào buổi chiều” “Chẳng lẽ mới bị bắt đã đưa đến ngay”. Tôi không sao hiểu rõ đầu đuôi câu chuyện, cứ ngong ngóng nhìn ra cửa và hồi hộp chờ đón những người bạn mới. Có tiếng lào xào, một đoàn người lủi thủi bước vô. Tôi giật mình kinh hãi, “người hay ma”! Khiếp, áo quần rách rưới, ốm nhom và đen như mọi. Da mặt bị lột từng lớp, mắt trũng sâu xuống, bước chân thất thểu như muốn ngã. Vừa đụng sạp giường là họ ngã xuống, những thây người ngay đơ bất động. Đàn ông, đàn bà, trẻ nít, hết thảy trên 40. Người lớn tuổi nhất chừng bốn mươi. Ba chúng tôi không nói gì, im lặng theo dõi. Thực tình tôi muốn hỏi ai đó đôi điều nhưng có ai tỉnh đâu. Chỉ mấy phút sau là nhà 3 phát lên những âm thanh ma quái, những tiếng la hét kinh hãi: Cứu, cứu..Trời ơi,..Chết chết,…Dép tôi đâu…Má,..Lạy Chúa,.Nam Mô... Tôi nhìn qua anh Nhà Trưởng Nguyễn văn Luận thăm chừng, anh im lặng trầm ngâm, ông Huy kéo hai chân lên sạp, bó gối nhìn vu vơ. Tôi hoang mang và sợ thật sự. Cái gì thế này, nhỡ họ ngồi dậy, xúm đến tóm cổ chúng tôi thì kêu ai giữa đêm khuya, cửa lại khoá bên ngoài. Tôi không thể tưởng tượng một tình cảnh ma quái như vầy. Chúng tôi thấy mỏi mệt mà không ai dám đi nằm, ngồi canh để nghe những tiếng ú ớ la hét. Sương khuya đã xuống, trời tháng mười lạnh thấy rõ. Càng khuya càng yên tĩnh, tiếng la hét trong cơn mê sảng càng rùng rợn… Cứ thế lâu thật lâu, có đến hai tiếng đồng hồ, thì một người đàn ông tỉnh dậy. Anh ta gầy nhom, đen thui, tóc rủ bờm xờm. Anh ngồi co gối như ông Huy. Chúng tôi theo dõi xem anh làm gì, anh nhìn chúng tôi một lúc rồi nhếch mép cười không nghe tiếng, nó không bình thường mà như yêu tinh trong chuyện hoang đường. - Có thuốc cho xin điếu. Hú vía, ông Huy vội lấy gói thuốc quấn một điếu, châm lửa rồi rón rén đem lại cho anh. Anh cắm điếu thuốc lên môi, hít mấy hơi liên tiếp rồi nhìn chúng tôi mặt méo xệch: - Cảm ơn các anh. Đây là đâu? Chúng tôi nhìn nhau, anh Luận lên tiếng trước: - Trại Cải Tạo A 30. Các anh ở đâu tới? - Đà Nẵng. Tôi thở ra và tự nhủ “thảo nào”. Một lát sau, tôi lần tới và hỏi chuyện anh: - Anh đã thấy khoẻ chưa? Lúc nãy thấy các anh mà sợ quá. - Tại liên tiếp chúng tôi trải qua nhiều chuyện quá kinh hoàng nên không ai còn sức, lại phải chịu suốt một ngày xe nhồi xóc từ sáng giờ. Tôi đi pha cho anh một ly nước và khơi tiếp câu chuyện có vẻ rất “đường rừng”: - Anh đi từ đâu, làm sao bị bắt mà thân hình thảm hại như vầy. Người tù vượt biển uống một mạch hết ly nước rồi chậm rải kể: “Tụi tui trên 60 người đi từ Cây số 9 Cam Ranh, đêm xuất bến, ghe chở người đã không bắt được ghe lương thực, đợi quá giờ nên phải đi . Lúc ghe chạy được hơn tiếng đồng hồ thì thấy có một ghe màu xám đuổi theo. Trên tàu mọi người nhốn nháo, hối tài công tăng ga, ai cũng bảo đó là ghe công an. Nhưng, ghe trước nhanh, ghe sau nhanh, ghe trước chậm ghe sau chậm. Hai ghe luôn luôn giữ một khoảng cách đều đặn. Sau 3 tiếng đồng hồ đuổi nhau thì ghe tụi tui bị hỏng máy. Thế là xong, không còn đường thoát. Nhưng, lạ thay, nhìn lui không ai còn thấy chiếc ghe kia nữa. Nhiều người trên ghe quả quyết: “Vừa mới thấy nó đây”, “Cứ như ma”… Ghe lềnh bềnh trôi vô định. Và bị cơn bão cấp 12 ập tới, buộc phải vứt bỏ tất cả những gì có thể vứt để giảm trọng lượng cho ghe. Mọi người ra công tìm cách sửa máy nhưng rồi thất vọng não nề. Lương thực cá nhân mang theo đến ngày thứ 3 là cạn. Gia đình có con nhỏ, mỗi bữa 1 muỗng cà-phê sữa quậy nước cho uống cầm hơi. Bắt đầu có người chết, lúc đầu thân nhân xin giữ lại xác, nhưng mỗi ngày mỗi nhiều nên phải vứt xuống biển. Trước khi “hải táng”, gia đình cầu nguyện “nhắn nhủ” đôi điều rồi mấy thanh niên còn sức khiêng đưa người chết xuống lòng biển sâu. Ngày thứ 13, đứa con gái của chủ ghe chết, nhiều người, yêu cầu cho làm thịt để cứu những người còn lại. Chủ ghe đồng ý, thịt đứa bé xẻ ra chia cho mỗi người 1 miếng. Các bà thì khóc thét lên sợ hãi. Máy ghe nổ, buộc thịt vào ống khói, thịt chín mùi khét lẹt, nhưng ai nấy nhắm mắt cố nuốt, hy vọng sống thêm một ngày để đợi chờ. Ngay hôm đó, khoảng 4 giờ chiều có một chiếc tàu hàng của Đài Loan ngang qua, nhưng không được lệnh vớt, họ cho lương thực: Mỳ gói, trái cây, bánh kẹo thuốc lá, ước chừng dùng được cả tháng. Họ còn cho một súng phóng pháo lệnh kêu cứu. Trước khi bỏ đi họ nói đêm nay có cơn bão sẽ đi qua đây. Có lương thực thì lại xẩy ra chuyện trúng thực, nhiều người đói lâu ngày, ăn vội vàng nằm lăn ra ôm bụng thở.” Ba chúng tôi nghe câu chuyện vượt biển rợn cả người. Nhớ lại chuyện mình, tôi mừng, may mà bị bắt, nếu đi, chắc chắn không đủ sức chịu đựng nổi với đói khát sóng gió…Ông Huy quấn thêm cho người kể chuyện điếu thuốc, tôi hỏi: - Ghe có bao nhiêu người và chết bao nhiêu? - 64 người, chết 19 vứt xuống biển, thịt 1. - Rồi làm sao các anh lại về đây? - Sau khi tàu Đài Loan bỏ đi tụi tui thấy một tàu khác lớn hơn, vội lấy súng phóng quả pháo đỏ kêu cứu, chiếc tàu quay mũi chạy về hướng chúng tôi. Ai nấy mừng rỡ, chuẩn bị tư thế để lên tàu. Lúc chiếc tàu đến bên ghe, nhiều người đã nghi, không phải tàu Mỹ, nhưng tâm lý sợ chết không ai còn nghe ai, mạnh ai nấy leo lên tàu: Tàu Liên Sô. - Thế sao không xuống lại.? - Làm sao xuống được, thuỷ thủ đoàn tịch thu hết thuốc men, lương thực của chúng tôi. Một vài người biết tiếng Anh, năn nỉ xin họ đưa tới một đảo tự do, họ mỉa mai bảo sẽ đưa về Thượng Hải, và họ chở chúng tôi vào Đà Nẵng. Điều trớ trêu là khi chúng tôi lên hết trên tàu Liên Sô thì chiếc tàu Đài Loan trở lại, họ đã có lệnh cho vớt chúng tôi. Nhưng tàu Liên Sô nhất định không cho. Tàu kia cứ chạy theo hú từng hồi còi não nuột, cuối cùng đành bỏ đi. Điều tàn nhẫn là họ lấy hết lương thực, mỗi ngày chỉ cho mỗi người một gói mỳ cầm hơi… Đêm hôm ấy cá nhân tôi không sao chợp mắt. Tuy biết chuyện, không còn sợ nữa nhưng bao nhiêu điều về tình nhân loại cứ xoáy mãi trong tôi. Trước những đe dọa đến sinh mạng con người, kể cả đàn bà con trẻ, họ không hề động tâm, tôi không hiểu họ sống vì lẽ gì. Tôi lại mừng, mình vẫn còn may mắn hơn, cho dù cơ nghiệp trắng tay, ngày mai còn mờ mịt… March - 1994 (trích Thăng Trầm in 2004)
|
|||
|
click để nghe nhạc |