|
|
||
|
|
||
TẢN MẠN MÂY TRE
Đã
là người Việt Nam mấy ai mà không nghe nói đến mây tre. Đồ
dùng đong đựng trong nhà hầu như toàn bằng tre mây: Từ cái
rế nồi, đôi đũa ăn, khay trầu, thúng mẹt, nong nia, giường
chõng… cho đến chuồng trâu chuồng bò, nhà cửa, đều
bằng tre. Nước Việt ba miền đều có tre, tre trong mọi ngóc
ngách thực dụng hàng ngày của dân quê. Tre quanh nhà, tre bao
bọc thôn xóm, tre
dọc đường cái qua làng.
Vẻ đẹp của Đa Đề là vẻ đẹp nam nhi mạnh mẽ,
oai phong chững chạc, Tre đẹp mềm mại lả lướt, thanh thoát
hơn. Đa Đề ở nơi đình chùa miếu mạo, Tre gần gũi sinh hoạt hàng ngày. Ăn măng luộc ngủ giường tre, gối tre, quạt tre, guốc tre...
Tre cũng phân ra đực cái, tre đực đặc ruột, cứng,
khó mối mọt, lâu hư mục, dùng làm giàn bầu bí, chuồng
trại, bắc cầu qua sông lạch….. Tre cái rỗng ruột, mỏng
da lóng dài, để đan lát hay làm lạt buộc đồ. Thôn quê mà
thiếu tre người dân sẽ lúng túng trong nhiều công việc hàng
ngày. Thời xa xưa, trẻ nhỏ làng quê học vần bằng những
chữ cái viết trên miếng tre, hoặc mo cau. Bút cũng bằng tre,
mực là nước hột mồng tơi tím. Ở vùng Trà Cổ (Móng Cái)
thuyền đánh cá còn cặp nhiều tre hai bên mạn, phòng khi gió
bão. Tre không có gì gọi là thừa thãi, ngay cả cành nhánh, cũng
làm chuôm cho cá đìa, cá ao, hoặc phơi khô đun bếp, tăm tre
nhiều người vẫn thích hơn tăm gỗ vì không bị gãy trong chân
răng khi xỉa.
Tre tuy không mang ý nghĩa quân tử như Trúc, nhưng đa
dụng hơn, nhờ thể chất cứng bền. Dân làng quê thời xưa
còn đi guốc tre, na ná guốc gỗ Nhật Bản. Ngày nay gốc tre
là vật liệu cho nghệ nhân điêu khác. Nhiều tác phẩm điêu
khắc trên gốc tre rất độc đáo, hấp dẫn khách phương Tây.
Những chân dung bằng gốc tre mang nét cỗ kính và cao đạo,
không trơn tru bình dị như tượng gỗ thông thường. Trường
thi ngày xưa dùng bảng cót (tre đan) để viết tên những người
bị trượt. Về sau, dù danh sách đánh máy nhưng
từ “bảng cót” vẫn dùng.
Tre cũng nhiều loại khác nhau: Tre vàng, tre cán giáo (thân
nhỏ bằng cổ tay, nhiều ở miệt Biên Hòa) tre xanh. Họ hàng
với Tre còn có Lồ ô, Bương, Giang, Trúc, Hóp, Sặc,
lớn nhỏ khác nhau không rõ do lẽ gì, mỗi giống sống theo
từng vùng riêng. Tre dưới đồng bằng, Lồ ô trên rừng. Người
ta trồng tre, trúc, không ai trồng lồ ô. Một loại cỏ thân
bằng cây tăm, cao khoảng 20 phân rất giống cây trúc thu
nhỏ, giới chơi non bộ gọi là “Thảo Trúc”. Non bộ và
tiểu cảnh biết khai thác giống Thảo Trúc này, sẽ làm cho tác
phẩm sống động, duyên dáng và thực hơn.
Ở miền Trung có một giới chuyên lên rừng chặt Lô ô,
kết thành bè theo sông về xuôi. Nha Trang có bến Lồ ô bên
cầu Hà Ra, Huế có đường Hàng
Bè dọc sông Gia Hội cũng là bến Lồ ô. Hình ảnh
một tốp bè nối đuôi trên sông Cái (Nha Trang), trên sông Hương
(Huế), mỗi bè hai người chống, đẹp biết bao, bây giờ ít
thấy, vì nguồn nguyên liệu cạn kiệt, mặt khác giao thông
ngày nay vào tận “vùng sâu vùng xa” (thâm sơn cùng cốc),
chuyên chở bằng xe tải tiện lợi hơn nhiều.
Lồ ô có dáng hiền hòa hơn tre, đặc biệt thẳng cây,
đốt dài gấp mấy lần, rất tiện cho công việc làm nò cá,
thúng chai, ghe câu, mành treo trước nhà, ngay cả “công
nghệ” làm lồng chim cũng cần lồ ô lóng dài (1). Những người
hút thuốc lào nhất thiết phải có một đốt tre cái vừa
phải để làm chiếc điếu cày: Ống tre cắt một đầu
mắt, khoét một lỗ nhỏ
cách đầu mắt kia chừng mươi phân, gắn nồi thuốc
tựa như nồi thuốc ống điếu (dố), đổ nước tới mức
nồi thuốc. Khi hút vê thuốc nhét vào nồi, kê mồm vào
miệng ống, châm lửa hít một hơi dài cho cháy hết thuốc,
từ từ nhả khói ra. Nếu ngắn hơi, bặp bặp (vừa hít vừa
thở) nhiều lần, lần sau cùng cố một hơi cho cháy cạn
thuốc. Nhìn một người hút thuốc lào sành điệu tôi thấy
có cái gì đó vừa thành khẩn say mê, quên hết sự đời,
vừa cho một hình ảnh rất đẹp lúc nhả khói. Dân thuốc lào
còn phân biệt điếu cày và điếu ục. Điếu ục bằng ống
bương to hơn,
Dân miền Tây Bắc thường dùng.
Về thực dụng, tre không bền bằng cây gỗ hay kim
loại, song về nghệ thuật, tôi thấy tre trội hơn. Chụp
ảnh một “cầu tre
lắt lẻo” có người quang gánh đi qua, hay chụp một hàng
rào tre ngoằn ngoèo có mấy em bé tan trường về, dễ đẹp hơn,
dễ gợi cảm hơn là ảnh một cầu đúc hay cầu sắt. Cũng
vậy, nhìn người hút thuốc lào bằng điếu nhôm tôi có
cảm giác thuốc không ngon, thiếu đậm đà và không thực. Nếu phải kể công dụng của Tre, Bương… thì còn nhiều, tùy nhu cầu và sinh hoạt
mỗi địa phương.
Mây đi đôi với Tre, bổ sung nhau trong việc chế tác đồ
dùng hàng ngày, nhất là dân nghề nông, nghề biển. Mây cũng
cho những sản phẩm thủ công giá trị về thẩm mỹ, thu hút
khách dùng không chỉ trong nước mà cả nước ngoài. Mây đi
với tre vì có những phần tre không kham được như lúc đan
kết đồ vật cần sợi dài. Mây rừng dài từ ba bốn mét, mây
dai dẻo hơn tre, rất tiện trong công việc tạo hoa văn tỉ
mỉ trên đồ dùng (2). Mây hiếm hơn Tre vì Mây ở rừng,
thuộc loại dây leo, có vòi gai móc, khó lấy, sơ ý là bị rách
da. Ghế mây, gối mây, giỏ mây.. Mây làm ra những mặt hàng
cao sang đắt giá hơn. Cùng họ với Mây có Song, thân lớn,
cứng chắc, làm sườn ghế bàn, hoặc chẻ ra thành sợi nhỏ
để đan. Theo những người làm nghề tre đan ở Phú Vinh (3)
(huyện Chương Mỹ, Hà Tây) cho biết thì Song có nhiều ở vùng
Quảng Nam Đà Nẵng, và là nguồn cung cấp cho các làng nghề
phía Bắc. Mây Tre như đôi bạn chí cốt thường có nhau.
Hình ảnh Tre hiện diện thường xuyên trong đời sống
và đi vào lòng người khá sâu đậm, nhất là những ai đã
sinh ra và lớn lên giữa lũy tre xanh thì rất dễ có cảm xúc
khi nghe những vần ca dao nhắc đến tre. Mây trên rừng, tre
ngay bên hè nhà, tre bao bọc nơi ăn chốn ở, lũy tre làng như
hàng rào che chắn gió bão, như ranh giới của một địa phương.
“Sau lũy tre xanh” hàm ý gói ghém tình tự quê hương, chốn
riêng tư nhiều gắn bó. Ra khỏi lũy tre xanh là tha phương
cầu thực, rời xa nơi đã in đậm bao nhiêu kỷ niệm một
thời. Cho nên, mỗi khi nhớ quê nhà là hình ảnh lũy tre,
bến nước con đò lại hiển hiện ray rứt tâm tư. Tre quả
thực ăn sâu vào tâm thức người Việt, từ hình ảnh lũy
tre, cho đến những sản phẩm chế tác từ tre, Tre bàng bạc
khắp nơi, Tre nhắc nhở cả gia phong đạo đức. Có lần ghé
qua phố cổ Hội An, tôi vô cùng thích thú khi thấy những câu
chữ Nho viết trên ống tre hun khói: Phước Như Đông Hải,
Khang Thái Giai Lão Bách Niên.(4)
Tre non nhú lên khỏi mặt đất chừng ba bốn mươi phân,
gọi là măng, nếu không muốn để thành tre thì bẻ làm
thức ăn. Măng thịt mềm, có hương vị hăng hăng đặc
biệt, dùng nấu nhiều món ăn mà xứ khác dù có măng cũng không
biết. Măng luộc, măng xào, măng chua, thịt xáo măng. Trên nguồn còn có Giang cùng
họ với tre, người ta bảo măng giang ngon hơn măng tre, tôi chưa
được ăn bao giờ nhưng nghe câu: “Canh
măng giang nấu cá ngạnh nguồn”, thấy cũng hấp dẫn. Cá
ngạnh, có nơi gọi cá ngát, là loại cá sông, giống như cá
trê, nhỏ bằng ngón tay, thịt ngọt thơm, không mỡ, thôn quê
thường kho khô hay nấu canh, tuy vậy làm cá ngạnh dễ bị
ngạnh cá châm tay, nhức buốt không chịu nổi nhất là vào mùa
rét. Giống cá này ưa châm chích mà kém chịu lạnh. Hồi còn
nhỏ tôi có lần đi xúc cá ngạnh, trời rét quá cá nổi đầy
trên mặt nước. Từ ngày bỏ quê ra tỉnh, mãi những năm
về sau, tôi chưa một lần gặp lại thứ cá nhỏ con ngon
thịt này. Ngày nay các quán ăn
có món vịt nấu măng, bún măng…Măng khô dùng nấu
cỗ bàn vào dịp Tết. “Con
cò mà đi ăn đêm Đậu
phải cành mềm lộn cổ xuống ao, Ông
ơi ông vớt tôi nao, Tôi
có lòng nào ông hãy xáo măng Có xáo
thì xáo nướng trong Đừng
xáo nước đục đau lòng còn con” (Quốc
văn giáo khoa thu) (5)
Trên nguồn còn có măng sặc (Reed), loại tương cận
với trúc, thân chỉ bằng ngón tay, người vùng Tây Bắc
luộc chắm với muối gia vị đặc biệt. Không quen rất khó
ăn (6). Cụ Nguyễn Bỉnh Khiêm trong bài thơ Tứ thì có câu: Thu
ăn măng trúc, Đông ăn giá Xuân
tắm hồ sen , Hạ tắm ao. Tuy
thế chưa thấy ai ăn măng trúc, có lẽ măng trúc chẳng đáng
bao nhiêu so với măng tre, hơn nữa Trúc loài đặc biệt quí
phái, được dùng làm biểu tượng cho người quân tử. Ngõ vào
nhà thường trồng trúc hai bên,. Ngày trước cụ tam Nguyên Yên
Đỗ mượn trúc nói về cảnh thanh bần lạc đạo: “'Từng
mây lơ lửng trời xanh ngắt Ngõ
trúc quanh co khách vắng teo”.
Thời
đệ nhất cộng hòa ở miền Nam con dấu của chính phủ dùng
hình khóm trúc do ý nghĩa: “Tiết trực tâm hư” (đốt
thẳng, ruột rỗng – chí công vô tư).
Trúc được chọn trong bộ tranh Tứ Bình nói về hoa lá
bốn mùa: Mai, Lan, Cúc, Trúc.
Người Việt còn có tập tục tin việc trồng cây ảnh
hưởng đến hưng thịnh của
gia đình. Trồng chuối trước nhà sẽ làm ăn không khá
(chúi mủi), trồng Tre, Trúc, Sung, Đu Đủ, sẽ khá hơn, do âm hưởng
của sung túc (đầy đủ), cũng như ngày Tết chưng hoa quả:
Dừa, đu đủ, xòai (dừa đủ xài).
Tre không những đáp ứng bao nhiêu thứ vật chất cần
thiết cho con người, tre còn đi vào ca dao tục ngữ, văn học
dân gian: “Tre tàn măng
mọc” là hình ảnh nói lên sự nối tiếp của thế hệ
sau đối với cha ông, một lời nhắc nhở đến sự tồn vong
của giống nòi. “Duồng gió
bẻ măng” ám chỉ những kẻ hay lợi dụng thời cơ, tương
tự “Đục nước thả câu”.
Không gió bẻ măng sẽ gây tiếng động ai cũng nghe, măng
lại nằm giữa bụi gai tre chằng chịt, phải cần thời gian,
lúc gió to, chủ nhà đóng cửa kẻ trộm mới ra tay. Cò, không
đục nước khó kiếm mồi.
Dáng Tre đã đẹp, Trúc còn đẹp hơn, bởi Trúc mảnh
mai nhỏ nhắn, mềm mại gần với giai nhân. Thanh Trúc, Hoàng
Trúc, Thúy Trúc, Trúc Lam, Trúc Lâm, đều là những tên cha
mẹ thường dùng đặt cho con. Dân ca miền Bắc có câu: Cây
trúc xinh, tang tình là cây trúc mọc Trúc xinh trúc đứng bờ ao, Em
xinh em đứng bờ rào (chỗ nào) cũng xinh
Trúc để
tạo những sản phẩm “cao cấp” thiên về mỹ thuật. Sau
75 có mấy năm rộ lên nghề làm mành trúc treo cửa, trúc
nhỏ bằng chiếc đũa ăn, cắt thành đoạn ngắn 5cm nhuộm đủ
màu. Người thợ theo mẫu vẽ dùng giây kẽm kết thành bức
mành cỡ 1m20 x 2m, treo lên trông như bức
tranh sơn thủy. Sản phẩm này lúc đầu rất ăn khách, xuất
cảng ra nước ngoài cũng nhiều. Vài năm sau dường như
thiếu nguyên liệu (trúc), người ta lại quấn giấy vé số
thay trúc. Được một thời
gian, nghề làm mành trúc âm thầm vào quên lãng.
Sáo trúc, một nhạc cụ có từ xa xưa trong nền âm
nhạc phương Đông. Một ống trúc dài chừng 60cm, người ta
khoét 8 lỗ tương ứng với một âm giai của nhạc phương Tây.
Tiếng sáo trúc không thể thay thế bởi bất cứ nhạc cụ nào
khác. Âm hưởng tiếng sáo trúc vút lên mấy tầng không,
lắng sâu tận đáy lòng người, có sức quyến rũ và làm tiêu
sân hận. Tiếng sáo Trương Lương đã làm cho quân lính Hạng
Võ nhớ nhà, mềm lòng buông khí giới. Tiếng sáo Trương Chi
làm cho công chúa trong cung cấm tương tư bỏ ăn mất ngủ. Trước
75 chương trình Tao Đàn của thi sĩ Đinh Hùng trên đài phát
thanh Sài Gòn có tiếng sáo Tô Kiều Ngân, tiếng sáo theo
giọng ngâm đã đưa lời thơ, ý thơ vào tận tâm hồn thính giả.
Người ta cũng làm ra lọai sáo nhôm sáo đồng, nhưng âm thanh không
thể bằng.
Nói đến tiếng sáo, tôi lại nhớ ai đó đã viết: “Ngồi
buồn nhớ lại chiều xưa, Vi vu
khoan nhặt sáo diều trên không. Bây
giờ em đã có chồng, Sáo
diều
năm cũ vẫn sầu lòng tôi”
Sáo
diều khác với ống sáo, ống tiêu. Thân sáo được làm
bằng một ống tre hoặc bương dài trên dưới 50 phân, đường
kính 5 - 11 cm. Ở giữa thân sáo người ta khoét 4 lỗ hình
chữ nhật để buộc vào thân diều, hai đầu đều có một
lỗ thổi hình chữ nhật để đón gió lùa vào. Gió càng
mạnh thì diều càng lên cao, diều càng lên cao tiếng sáo càng
vang xa.
Sáo
diều thường ngân vang trên trên cánh đồng bát ngát vào
những chiều hè gió mát, những đêm trăng sáng, hoặc trong ngày
lễ hội vui chơi. (7)
Trúc có nhiều giống: Trúc vàng, trúc xanh, trúc đen, đặc
biệt là lôi trúc. Lôi trúc là loại trúc kiểng, thường
trồng trong chậu. Bình dân còn gọi trúc giò gà, trúc ống điếu.
Đã có lần tôi hỏi về ý nghĩa Lôi Trúc, được một ông lão
giảng: Lôi là tiếng sấm, giống trúc này khi có gió thường
phát ra tiếng kêu lớn, khác với tiếng xào xạc của trúc thường
nên có tên Lôi Trúc. Tôi nghĩ, chắc còn
điển tích khác chính xác hơn chăng. Lôi Trúc đẹp ở
chỗ đốt rất nhặt và ngắn, như hình ảnh người lùn. Các
giống trúc nếu khéo đưa vào dạng cây kiểng (Bonsai) và
tiểu cảnh, sẽ thành những chậu kiểng trang trí đẹp cửa
đẹp nhà.
Trúc có nơi trồng thành rừng: Rừng Trúc vàng ở Biên
Hòa, nơi đây trước 75, nhiếp ảnh gia Nguyễn Ngọc Hạnh đã
dàn dựng chụp tác phẩm Múa Lân trong rừng trúc, một trong
những kiệt tác của ông. Trong dân gian còn có Táo Trúc, Bộc
Trúc, đấy là pháo làm bằng ống trúc. Ngày xưa muốn làm pháo,
người ta phơi khô ống trúc rồi nhồi thuốc pháo vào, sau này
dùng giấy thay trúc. Một cây có tên Trúc Đào, nhiều người
mới nghe tưởng là họ hàng nhà Trúc, đó là một loài hoa
ở Việt Nam cũng như ở Mỹ, thường được trồng hai bên
đường, cây cao chừng 2m, hoa màu hồng, trúc đào có nhiều
độc tố nguy hiểm cho sức khỏe mà lâu nay ít ai biết (8)
Tại Việt Nam tôi chưa gặp rừng tre nào, nhưng biết
ở Đài Bắc có một rừng tre đẹp tuyệt. Tre xanh, cây to và
thẳng đứng không gai. Lá cành trên cao, phần dưới thông thoáng,
có thể nhìn xuyên suốt cả trăm mét. Nhiều nhà nhiếp ảnh
đã chụp rừng tre này đưa lên lịch. Tre làng quê Việt Nam có
vẻ đẹp mộc mạc tự nhiên hơn. Đi trên con đường làng
rợp bóng tre, không còi xe, không bụi bặm, nhất là giữa ngày
hè, thật chẳng còn gì thú bằng!
Ngày trước làng tôi tre bao bọc, mỗi buổi chiều con
đường quan (cái) bóng tre đổ mát rượi, các ông bà già
ngồi hóng mát, nhìn ra đồng lúa (tháng 5) chín vàng, cảnh
thật thanh bình an lạc. Sông có tre mọc hai bên bờ, dòng sông
trở nên đẹp thướt tha quyến rủ hơn, nếu có vài con đò
khép nép dưới bóng tre, cảnh lại càng nên thơ. Lần theo sông
Thu Bồn lên thăm Hòn Kẽm Đá Dừng (9) mỗi khi thuyền qua
chỗ có bóng tre, thấp thóang vài
con đò, tôi cảm thấy lòng bồi hồi như vừa tìm lại
được kỷ niệm của một thời xa xưa.
Ngày nay nơi đâu cũng bạch đàn… bạch đàn, cảnh xơ
cứng vô hồn. Mấy câu thơ của một người tha phương
nhiều năm nay trở về, vẽ lại hình ảnh một làng quê: Mái
bằng mái bằng lại mái bằng Tôi
đi như cá lạc vào đăng Ba
mươi năm về thăm quê mẹ Cả
làng là một cục xi măng...
Lũy
tre luôn là hình ảnh gợi nhớ quê nhà, một thi sĩ đã
viết: Lữ
khách bao năm xa vời quê cũ Tre
trong thơ Hồ Dzếnh tuy nghèo song đậm đà tình tự: Làng tôi thắt đáy lưng...
tre Cái nghèo ở làng quê không như cái nghèo
của thành thị, quê nghèo mà đẹp, nghèo mà vẫn “phong hoa
tuyết nguyệt”, thế nên ca dao mới có câu: Ầu
ơ .... "Ví dầu cầu ván đóng đinh,
“Ngày trở về, anh bước lê trên quãng đường đê đến
bên lũy tre ...”, hình ảnh anh thương
binh trong nhạc Phạm Duy đẹp nhờ “đến bên lũy tre”,
nếu anh lê bước đến bên chợ Bến Thành hay chợ Đồng Xuân
thì thật mỉa mai... Có lẽ tre cứng rắn bộc trực nên đã
có người dùng làm bút hiệu: Nhà Thơ Bút Tre. Bút Tre là nhà
thơ khá đặc biệt của hậu bán thế kỷ XX ở VN. Ông tên
thật là Đặng Văn Đăng (1911-1986), người xã Văn Lang,
huyện Hạ Hoà, tỉnh Phú Thọ – nơi nổi tiếng “nói
trạng”, dân gian có câu “Dân Văn Lang cả làng nói phét”.
Cách gieo vần trong thơ ông khá đặc biệt, như đùa mà
thật, như tục mà trong, rất được người đời ưa thích
bắt chước. Từ đó có phong trào thi đua làm “thơ Bút
Tre”, thơ Bút Tre rộ lên khắp nơi đến nỗi không còn phân
biệt được Bút Tre thật Bút Tre giả. Vài câu tiêu biểu
của Bút Tre: Để
thăm quê tớ mỗi ngày một sang Con
đò dịch đít sang ngang Xa
xa có một cái làng thò ra. Thuột
xong một cái anh về với em.. Giáp
ta thắng trận Điện Biên mới về
Tre tuy quê mùa mộc mạc nhưng Tre đã thâm nhập vào đời
sống dân quê khá sâu sắc từ vật chất đến tinh thần.
Cuộc chiến tranh Nam Bắc mấy mươi năm làm cho đất nước
điêu tàn,
ruộng đồng nhà cửa tre pheo chẳng còn mấy. . Ngày nay
tuy có đổi thay mới mẻ, song vắng bóng nét đẹp “chân quê”
thuở nào. Có nơi đã trồng lại tre mà hình ảnh một lũy
tre già đong đưa trước gió trong tiếng bà ru cháu: “Ầu
ơ ...Ví dầu cầu ván đóng đinh, Cầu tre lắt lẻo,
gập ghềnh khó đi” tưởng
chừng không còn nữa. (1)Lồng
chim cần lóng dài, như lồng Họa Mi, Sơn Ca, lóng ngắn vấp
mắt khó chuốt, lồng không đẹp, xem bài Làm Lồng trang 20
BVNCCK. (2) (3) Bài
“Nghề tre đan”
trang 190 QHQOK tập 10
(4)
Phố Hội trang 161 QHQOK tập 1 (5)Giáo
dục phong kiến dạy con người có tình có nghĩa, có ý thức
đạo đức gia phong, ngày nay không còn thấy trong
nhà trường. (không có môn công dân đức dục
(6) Bản làng Điện Biên
trang 143 QHQOK tập 4
(7) Sáo diều là cả một công trình nghệ thuật dân gian đặc biệt, từ diều đến sáo công
việc rất phức tạp. Hiện nay làng diều Đình Cúc, xã Bắc
Sơn, huyện Sóc Sơn, Hà Nội đang thực hiện con diều khổng
lồ, dự kiến sẽ cất cánh trong Đại lễ 1.000 năm Thăng
Long - Hà Nội.
(8)Một bài báo trên Internet: Bác
sỹ Trương Văn Lợi, giám đốc bệnh viện Y học cổ truyền
Hưng Yên, cho biết: Trong y học, trúc đào được sử dụng như
một loại thuốc cường tim, trợ tim thì khi dùng cũng phải
hết sức cẩn trọng, vì do mức độ nguy hiểm mà lâu nay y
học đã thay thế nó bằng những hợp chất khác an toàn hơn.
Nhiều trường hợp không ăn trực tiếp, chỉ cần hít phải
khói từ việc đốt cây trúc đào, dùng cành cây xỉa răng
hay uống nước có lá, hoa trúc đào rụng xuống cũng gây
ngộ độc. Sau khi đi vào cơ thể, độc tố phát tán nhanh, gây ra những
triệu chứng: đau đầu, chóng mặt, nôn mửa, ngộ độc
nặng có thể dẫn tới trụy tim, tụt huyết áp, hôn mê.
|
||
|
|
||
|
click để nghe nhạc |