TẢN MẠN MÂY TRE

  

  Đã là người Việt Nam mấy ai mà không nghe nói đến mây tre. Đồ dùng đong đựng trong nhà hầu như toàn bằng tre mây: Từ cái rế nồi, đôi đũa ăn, khay trầu, thúng mẹt, nong nia, giường chõng… cho đến chuồng trâu chuồng bò, nhà cửa, đều bằng tre. Nước Việt ba miền đều có tre, tre trong mọi ngóc ngách thực dụng hàng ngày của dân quê. Tre quanh nhà, tre bao bọc thôn xóm, tre  dọc đường cái qua làng.

  Vẻ đẹp của Đa Đề là vẻ đẹp nam nhi mạnh mẽ, oai phong chững chạc, Tre đẹp mềm mại lả lướt, thanh thoát hơn. Đa Đề ở nơi đình chùa miếu mạo, Tre gần gũi sinh hoạt hàng ngày. Ăn măng luộc ngủ giường tre, gối tre, quạt tre, guốc tre...

  Tre cũng phân ra đực cái, tre đực đặc ruột, cứng, khó mối mọt, lâu hư mục, dùng làm giàn bầu bí, chuồng trại, bắc cầu qua sông lạch….. Tre cái rỗng ruột, mỏng da lóng dài, để đan lát hay làm lạt buộc đồ. Thôn quê mà thiếu tre người dân sẽ lúng túng trong nhiều công việc hàng ngày. Thời xa xưa, trẻ nhỏ làng quê học vần bằng những chữ cái viết trên miếng tre, hoặc mo cau. Bút cũng bằng tre, mực là nước hột mồng tơi tím. Ở vùng Trà Cổ (Móng Cái) thuyền đánh cá còn cặp nhiều tre hai bên mạn, phòng khi gió bão. Tre không có gì gọi là thừa thãi, ngay cả cành nhánh, cũng làm chuôm cho cá đìa, cá ao, hoặc phơi khô đun bếp, tăm tre nhiều người vẫn thích hơn tăm gỗ vì không bị gãy trong chân răng khi xỉa.

  Tre tuy không mang ý nghĩa quân tử như Trúc, nhưng đa dụng hơn, nhờ thể chất cứng bền. Dân làng quê thời xưa còn đi guốc tre, na ná guốc gỗ Nhật Bản. Ngày nay gốc tre là vật liệu cho nghệ nhân điêu khác. Nhiều tác phẩm điêu khắc trên gốc tre rất độc đáo, hấp dẫn khách phương Tây. Những chân dung bằng gốc tre mang nét cỗ kính và cao đạo, không trơn tru bình dị như tượng gỗ thông thường. Trường thi ngày xưa dùng bảng cót (tre đan) để viết tên những người bị trượt. Về sau, dù danh sách đánh máy nhưng  từ “bảng cót” vẫn dùng.

  Tre cũng nhiều loại khác nhau: Tre vàng, tre cán giáo (thân nhỏ bằng cổ tay, nhiều ở miệt Biên Hòa) tre xanh. Họ hàng với Tre còn có Lồ ô, Bương, Giang, Trúc, Hóp, Sặc, lớn nhỏ khác nhau không rõ do lẽ gì, mỗi giống sống theo từng vùng riêng. Tre dưới đồng bằng, Lồ ô trên rừng. Người ta trồng tre, trúc, không ai trồng lồ ô. Một loại cỏ thân bằng cây tăm, cao khoảng 20 phân rất giống cây trúc thu nhỏ, giới chơi non bộ gọi là “Thảo Trúc”. Non bộ và tiểu cảnh biết khai thác giống Thảo Trúc này, sẽ làm cho tác phẩm sống động, duyên dáng và thực hơn.

  Ở miền Trung có một giới chuyên lên rừng chặt Lô ô, kết thành bè theo sông về xuôi. Nha Trang có bến Lồ ô bên cầu Hà Ra, Huế có đường Hàng  Bè dọc sông Gia Hội cũng là bến Lồ ô. Hình ảnh một tốp bè nối đuôi trên sông Cái (Nha Trang), trên sông Hương (Huế), mỗi bè hai người chống, đẹp biết bao, bây giờ ít thấy, vì nguồn nguyên liệu cạn kiệt, mặt khác giao thông ngày nay vào tận “vùng sâu vùng xa” (thâm sơn cùng cốc), chuyên chở bằng xe tải tiện lợi hơn nhiều.

  Lồ ô có dáng hiền hòa hơn tre, đặc biệt thẳng cây, đốt dài gấp mấy lần, rất tiện cho công việc làm nò cá, thúng chai, ghe câu, mành treo trước nhà, ngay cả “công nghệ” làm lồng chim cũng cần lồ ô lóng dài (1). Những người hút thuốc lào nhất thiết phải có một đốt tre cái vừa phải để làm chiếc điếu cày: Ống tre cắt một đầu mắt, khoét một lỗ nhỏ  cách đầu mắt kia chừng mươi phân, gắn nồi thuốc tựa như nồi thuốc ống điếu (dố), đổ nước tới mức nồi thuốc. Khi hút vê thuốc nhét vào nồi, kê mồm vào miệng ống, châm lửa hít một hơi dài cho cháy hết thuốc, từ từ nhả khói ra. Nếu ngắn hơi, bặp bặp (vừa hít vừa thở) nhiều lần, lần sau cùng cố một hơi cho cháy cạn thuốc. Nhìn một người hút thuốc lào sành điệu tôi thấy có cái gì đó vừa thành khẩn say mê, quên hết sự đời, vừa cho một hình ảnh rất đẹp lúc nhả khói. Dân thuốc lào còn phân biệt điếu cày và điếu ục. Điếu ục bằng ống bương to hơn, Dân miền Tây Bắc thường dùng.

  Về thực dụng, tre không bền bằng cây gỗ hay kim loại, song về nghệ thuật, tôi thấy tre trội hơn. Chụp ảnh một “cầu tre  lắt lẻo” có người quang gánh đi qua, hay chụp một hàng rào tre ngoằn ngoèo có mấy em bé tan trường về, dễ đẹp hơn, dễ gợi cảm hơn là ảnh một cầu đúc hay cầu sắt. Cũng vậy, nhìn người hút thuốc lào bằng điếu nhôm tôi có cảm giác thuốc không ngon, thiếu đậm đà và không thực. Nếu phải kể công dụng của Tre, Bương… thì còn nhiều, tùy nhu cầu và sinh hoạt mỗi địa phương.

  Mây đi đôi với Tre, bổ sung nhau trong việc chế tác đồ dùng hàng ngày, nhất là dân nghề nông, nghề biển. Mây cũng cho những sản phẩm thủ công giá trị về thẩm mỹ, thu hút khách dùng không chỉ trong nước mà cả nước ngoài. Mây đi với tre vì có những phần tre không kham được như lúc đan kết đồ vật cần sợi dài. Mây rừng dài từ ba bốn mét, mây dai dẻo hơn tre, rất tiện trong công việc tạo hoa văn tỉ mỉ trên đồ dùng (2). Mây hiếm hơn Tre vì Mây ở rừng, thuộc loại dây leo, có vòi gai móc, khó lấy, sơ ý là bị rách da. Ghế mây, gối mây, giỏ mây.. Mây làm ra những mặt hàng cao sang đắt giá hơn. Cùng họ với Mây có Song, thân lớn, cứng chắc, làm sườn ghế bàn, hoặc chẻ ra thành sợi nhỏ để đan. Theo những người làm nghề tre đan ở Phú Vinh (3) (huyện Chương Mỹ, Hà Tây) cho biết thì Song có nhiều ở vùng Quảng Nam Đà Nẵng, và là nguồn cung cấp cho các làng nghề phía Bắc. Mây Tre như đôi bạn chí cốt thường có nhau.

       Hình ảnh Tre hiện diện thường xuyên trong đời sống và đi vào lòng người khá sâu đậm, nhất là những ai đã sinh ra và lớn lên giữa lũy tre xanh thì rất dễ có cảm xúc khi nghe những vần ca dao nhắc đến tre. Mây trên rừng, tre ngay bên hè nhà, tre bao bọc nơi ăn chốn ở, lũy tre làng như hàng rào che chắn gió bão, như ranh giới của một địa phương. “Sau lũy tre xanh” hàm ý gói ghém tình tự quê hương, chốn riêng tư nhiều gắn bó. Ra khỏi lũy tre xanh là tha phương cầu thực, rời xa nơi đã in đậm bao nhiêu kỷ niệm một thời. Cho nên, mỗi khi nhớ quê nhà là hình ảnh lũy tre, bến nước con đò lại hiển hiện ray rứt tâm tư. Tre quả thực ăn sâu vào tâm thức người Việt, từ hình ảnh lũy tre, cho đến những sản phẩm chế tác từ tre, Tre bàng bạc khắp nơi, Tre nhắc nhở cả gia phong đạo đức. Có lần ghé qua phố cổ Hội An, tôi vô cùng thích thú khi thấy những câu chữ Nho viết trên ống tre hun khói: Phước Như Đông Hải,  Khang Thái Giai Lão Bách Niên.(4)

  Tre non nhú lên khỏi mặt đất chừng ba bốn mươi phân, gọi là măng, nếu không muốn để thành tre thì bẻ làm thức ăn. Măng thịt mềm, có hương vị hăng hăng đặc biệt, dùng nấu nhiều món ăn mà xứ khác dù có măng cũng không biết. Măng luộc, măng xào, măng chua, thịt xáo măng. Trên nguồn còn có Giang cùng họ với tre, người ta bảo măng giang ngon hơn măng tre, tôi chưa được ăn bao giờ nhưng nghe câu: “Canh măng giang nấu cá ngạnh nguồn”, thấy cũng hấp dẫn. Cá ngạnh, có nơi gọi cá ngát, là loại cá sông, giống như cá trê, nhỏ bằng ngón tay, thịt ngọt thơm, không mỡ, thôn quê thường kho khô hay nấu canh, tuy vậy làm cá ngạnh dễ bị ngạnh cá châm tay, nhức buốt không chịu nổi nhất là vào mùa rét. Giống cá này ưa châm chích mà kém chịu lạnh. Hồi còn nhỏ tôi có lần đi xúc cá ngạnh, trời rét quá cá nổi đầy trên mặt nước. Từ ngày bỏ quê ra tỉnh, mãi những năm về sau, tôi chưa một lần gặp lại thứ cá nhỏ con ngon thịt này. Ngày nay các quán ăn  có món vịt nấu măng, bún măng…Măng khô dùng nấu cỗ bàn vào dịp Tết.

“Con cò mà đi ăn đêm

 Đậu phải cành mềm lộn cổ xuống ao,

Ông ơi ông vớt tôi nao,

Tôi có lòng nào ông hãy xáo măng

Có xáo thì xáo nướng trong

Đừng xáo nước đục đau lòng còn con”

(Quốc văn giáo khoa thu) (5)

  Trên nguồn còn có măng sặc (Reed), loại tương cận với trúc, thân chỉ bằng ngón tay, người vùng Tây Bắc luộc chắm với muối gia vị đặc biệt. Không quen rất khó ăn (6). Cụ Nguyễn Bỉnh Khiêm trong bài thơ Tứ thì có câu:

Thu ăn măng trúc, Đông ăn giá

Xuân tắm hồ sen , Hạ tắm ao.

Tuy thế chưa thấy ai ăn măng trúc, có lẽ măng trúc chẳng đáng bao nhiêu so với măng tre, hơn nữa Trúc loài đặc biệt quí phái, được dùng làm biểu tượng cho người quân tử. Ngõ vào nhà thường trồng trúc hai bên,. Ngày trước cụ tam Nguyên Yên Đỗ mượn trúc nói về cảnh thanh bần lạc đạo:

“'Từng mây lơ lửng trời xanh ngắt

 Ngõ trúc quanh co khách vắng teo”.

Thời đệ nhất cộng hòa ở miền Nam con dấu của chính phủ dùng hình khóm trúc do ý nghĩa: “Tiết trực tâm hư” (đốt thẳng, ruột rỗng – chí công vô tư).  Trúc được chọn trong bộ tranh Tứ Bình nói về hoa lá bốn mùa: Mai, Lan, Cúc, Trúc.

  Người Việt còn có tập tục tin việc trồng cây ảnh hưởng đến hưng thịnh của  gia đình. Trồng chuối trước nhà sẽ làm ăn không khá (chúi mủi), trồng Tre, Trúc, Sung, Đu Đủ, sẽ khá hơn, do âm hưởng của sung túc (đầy đủ), cũng như ngày Tết chưng hoa quả: Dừa, đu đủ, xòai (dừa đủ xài).

  Tre không những đáp ứng bao nhiêu thứ vật chất cần thiết cho con người, tre còn đi vào ca dao tục ngữ, văn học dân gian: “Tre tàn măng mọc” là hình ảnh nói lên sự nối tiếp của thế hệ sau đối với cha ông, một lời nhắc nhở đến sự tồn vong của giống nòi. “Duồng gió bẻ măng” ám chỉ những kẻ hay lợi dụng thời cơ, tương tự “Đục nước thả câu”. Không gió bẻ măng sẽ gây tiếng động ai cũng nghe, măng lại nằm giữa bụi gai tre chằng chịt, phải cần thời gian, lúc gió to, chủ nhà đóng cửa kẻ trộm mới ra tay. Cò, không đục nước khó kiếm mồi.

  Dáng Tre đã đẹp, Trúc còn đẹp hơn, bởi Trúc mảnh mai nhỏ nhắn, mềm mại gần với giai nhân. Thanh Trúc, Hoàng Trúc, Thúy Trúc, Trúc Lam, Trúc Lâm, đều là những tên cha mẹ thường dùng đặt cho con. Dân ca miền Bắc có câu:

Cây trúc xinh, tang tình là cây trúc mọc
Qua lối nọ như bờ ao
Chị Hai xinh tang tình là chị Hai đứng
Đứng nơi nào qua lối như cũng xinh.
Ca dao:

 Trúc xinh trúc đứng bờ ao,

Em xinh em đứng bờ rào (chỗ nào) cũng xinh

  Trúc để tạo những sản phẩm “cao cấp” thiên về mỹ thuật. Sau 75 có mấy năm rộ lên nghề làm mành trúc treo cửa, trúc nhỏ bằng chiếc đũa ăn, cắt thành đoạn ngắn 5cm nhuộm đủ màu. Người thợ theo mẫu vẽ dùng giây kẽm kết thành bức mành cỡ 1m20 x 2m, treo lên trông như bức tranh sơn thủy. Sản phẩm này lúc đầu rất ăn khách, xuất cảng ra nước ngoài cũng nhiều. Vài năm sau dường như thiếu nguyên liệu (trúc), người ta lại quấn giấy vé số thay trúc. Được một thời  gian, nghề làm mành trúc âm thầm vào quên lãng.

  Sáo trúc, một nhạc cụ có từ xa xưa trong nền âm nhạc phương Đông. Một ống trúc dài chừng 60cm, người ta khoét 8 lỗ tương ứng với một âm giai của nhạc phương Tây. Tiếng sáo trúc không thể thay thế bởi bất cứ nhạc cụ nào khác. Âm hưởng tiếng sáo trúc vút lên mấy tầng không, lắng sâu tận đáy lòng người, có sức quyến rũ và làm tiêu sân hận. Tiếng sáo Trương Lương đã làm cho quân lính Hạng Võ nhớ nhà, mềm lòng buông khí giới. Tiếng sáo Trương Chi làm cho công chúa trong cung cấm tương tư bỏ ăn mất ngủ. Trước 75 chương trình Tao Đàn của thi sĩ Đinh Hùng trên đài phát thanh Sài Gòn có tiếng sáo Tô Kiều Ngân, tiếng sáo theo giọng ngâm đã đưa lời thơ, ý thơ vào tận tâm hồn thính giả.  Người ta cũng làm ra lọai sáo nhôm sáo đồng, nhưng âm thanh không thể bằng.

  Nói đến tiếng sáo, tôi lại nhớ ai đó đã viết:

 “Ngồi buồn nhớ lại chiều xưa,

Vi vu khoan nhặt sáo diều trên không.

 Bây giờ em đã có chồng,

Sáo diều  năm cũ vẫn sầu lòng tôi”

  Sáo diều khác với ống sáo, ống tiêu. Thân sáo được làm bằng một ống tre hoặc bương dài trên dưới 50 phân, đường kính 5 - 11 cm. Ở giữa thân sáo người ta khoét 4 lỗ hình chữ nhật để buộc vào thân diều, hai đầu đều có một lỗ thổi hình chữ nhật để đón gió lùa vào. Gió càng mạnh thì diều càng lên cao, diều càng lên cao tiếng sáo càng vang xa.                                                                                                   

  Sáo diều thường ngân vang trên trên cánh đồng bát ngát vào những chiều hè gió mát, những đêm trăng sáng, hoặc trong ngày lễ hội vui chơi. (7)

  Trúc có nhiều giống: Trúc vàng, trúc xanh, trúc đen, đặc biệt là lôi trúc. Lôi trúc là loại trúc kiểng, thường trồng trong chậu. Bình dân còn gọi trúc giò gà, trúc ống điếu. Đã có lần tôi hỏi về ý nghĩa Lôi Trúc, được một ông lão giảng: Lôi là tiếng sấm, giống trúc này khi có gió thường phát ra tiếng kêu lớn, khác với tiếng xào xạc của trúc thường nên có tên Lôi Trúc. Tôi nghĩ, chắc còn  điển tích khác chính xác hơn chăng. Lôi Trúc đẹp ở chỗ đốt rất nhặt và ngắn, như hình ảnh người lùn. Các giống trúc nếu khéo đưa vào dạng cây kiểng (Bonsai) và tiểu cảnh, sẽ thành những chậu kiểng trang trí đẹp cửa đẹp nhà.

  Trúc có nơi trồng thành rừng: Rừng Trúc vàng ở Biên Hòa, nơi đây trước 75, nhiếp ảnh gia Nguyễn Ngọc Hạnh đã dàn dựng chụp tác phẩm Múa Lân trong rừng trúc, một trong những kiệt tác của ông. Trong dân gian còn có Táo Trúc, Bộc Trúc, đấy là pháo làm bằng ống trúc. Ngày xưa muốn làm pháo, người ta phơi khô ống trúc rồi nhồi thuốc pháo vào, sau này dùng giấy thay trúc. Một cây có tên Trúc Đào, nhiều người mới nghe tưởng là họ hàng nhà Trúc, đó là một loài hoa ở Việt Nam cũng như ở Mỹ, thường được trồng hai bên đường, cây cao chừng 2m, hoa màu hồng, trúc đào có nhiều độc tố nguy hiểm cho sức khỏe mà lâu nay ít ai biết (8)

  Tại Việt Nam tôi chưa gặp rừng tre nào, nhưng biết ở Đài Bắc có một rừng tre đẹp tuyệt. Tre xanh, cây to và thẳng đứng không gai. Lá cành trên cao, phần dưới thông thoáng, có thể nhìn xuyên suốt cả trăm mét. Nhiều nhà nhiếp ảnh đã chụp rừng tre này đưa lên lịch. Tre làng quê Việt Nam có vẻ đẹp mộc mạc tự nhiên hơn. Đi trên con đường làng rợp bóng tre, không còi xe, không bụi bặm, nhất là giữa ngày hè, thật chẳng còn gì thú bằng!

  Ngày trước làng tôi tre bao bọc, mỗi buổi chiều con đường quan (cái) bóng tre đổ mát rượi, các ông bà già ngồi hóng mát, nhìn ra đồng lúa (tháng 5) chín vàng, cảnh thật thanh bình an lạc. Sông có tre mọc hai bên bờ, dòng sông trở nên đẹp thướt tha quyến rủ hơn, nếu có vài con đò khép nép dưới bóng tre, cảnh lại càng nên thơ. Lần theo sông Thu Bồn lên thăm Hòn Kẽm Đá Dừng (9) mỗi khi thuyền qua chỗ có bóng tre, thấp thóang vài  con đò, tôi cảm thấy lòng bồi hồi như vừa tìm lại được kỷ niệm của một thời xa xưa.

  Ngày nay nơi đâu cũng bạch đàn… bạch đàn, cảnh xơ cứng vô hồn. Mấy câu thơ của một người tha phương nhiều năm nay trở về, vẽ lại hình ảnh một làng quê:

 Mái bằng mái bằng lại mái bằng

 Tôi đi như cá lạc vào đăng

 Ba  mươi năm về thăm quê mẹ

 Cả làng là một cục xi măng...

  Lũy tre luôn là hình ảnh gợi nhớ quê nhà, một thi sĩ đã viết:

Lữ khách bao năm xa vời quê cũ
Bỗng chạnh lòng nhớ tới lũy tre xưa

Tre trong thơ Hồ Dzếnh tuy nghèo song đậm đà tình tự:

Làng tôi thắt đáy lưng... tre
Sông dài, cỏ mượt đường đê bốn mùa.
Nhịp đời định sẵn từ xưa:
Ươm tơ tháng sáu, lên chùa tháng giêng.

Cái nghèo ở làng quê không như cái nghèo của thành thị, quê nghèo mà đẹp, nghèo mà vẫn “phong hoa tuyết nguyệt”, thế nên ca dao mới có câu:

Ầu  ơ .... "Ví dầu cầu ván đóng đinh,
Cầu tre lắt lẻo, gập ghềnh khó đi .
Khó đi mượn chén ăn cơm,
Mượn ve mua rượu, mượn đờn kéo chơi".
Kéo lên: ọ é ò e ....
Cầu tre lắt lẻo, cầu tre gập ghềnh.
Cầu tre một nhịp chênh vênh,
Bắc ngang dòng nước lênh đênh sóng bèo .
Cầu tre lắt lẻo, cheo leo,
Những đêm trăng xế, trăng treo đầu cầu .

 

  “Ngày trở về, anh bước lê trên quãng đường đê đến bên lũy tre ...”, hình ảnh anh thương binh trong nhạc Phạm Duy đẹp nhờ “đến bên lũy tre”, nếu anh lê bước đến bên chợ Bến Thành hay chợ Đồng Xuân thì thật mỉa mai... Có lẽ tre cứng rắn bộc trực nên đã có người dùng làm bút hiệu: Nhà Thơ Bút Tre. Bút Tre là nhà thơ khá đặc biệt của hậu bán thế kỷ XX ở VN. Ông tên thật là Đặng Văn Đăng (1911-1986), người xã Văn Lang, huyện Hạ Hoà, tỉnh Phú Thọ – nơi nổi tiếng “nói trạng”, dân gian có câu “Dân Văn Lang cả làng nói phét”. Cách gieo vần trong thơ ông khá đặc biệt, như đùa mà thật, như tục mà trong, rất được người đời ưa thích bắt chước. Từ đó có phong trào thi đua làm “thơ Bút Tre”, thơ Bút Tre rộ lên khắp nơi đến nỗi không còn phân biệt được Bút Tre thật Bút Tre giả. Vài câu tiêu biểu của Bút Tre:

 Xin mời các bạn về đây                                                                                                                      

Để thăm quê tớ mỗi ngày một sang                                                                                              

Con đò dịch đít sang ngang                                                                                                             

Xa xa có một cái làng thò ra.

 Anh đi chiến dịch Ban Mê                                                                                                           

Thuột xong một cái anh về với em..

 Hoan hô đại tướng Võ Nguyên                                                                                                         

Giáp ta thắng trận Điện Biên mới về

  Tre tuy quê mùa mộc mạc nhưng Tre đã thâm nhập vào đời sống dân quê khá sâu sắc từ vật chất đến tinh thần. Cuộc chiến tranh Nam Bắc mấy mươi năm làm cho đất nước điêu tàn,  ruộng đồng nhà cửa tre pheo chẳng còn mấy. . Ngày nay tuy có đổi thay mới mẻ, song vắng bóng nét đẹp “chân quê” thuở nào. Có nơi đã trồng lại tre mà hình ảnh một lũy tre già đong đưa trước gió trong tiếng bà ru cháu: “Ầu  ơ ...Ví dầu cầu ván đóng đinh, Cầu tre lắt lẻo, gập ghềnh khó đi” tưởng chừng không còn nữa.

   Tháng  5 - 2008

 

(1)Lồng chim cần lóng dài, như lồng Họa Mi, Sơn Ca, lóng ngắn vấp mắt khó chuốt, lồng không đẹp, xem bài Làm Lồng trang 20 BVNCCK.

(2) (3) Bài “Nghề tre đan” trang 190 QHQOK  tập 10                                                                                        (4) Phố Hội trang 161 QHQOK tập 1                                                                                                            

 (5)Giáo dục phong kiến dạy con người có tình có nghĩa, có ý thức đạo đức gia phong, ngày nay không còn thấy trong nhà trường. (không có môn công dân đức dục                                                                                     (6) Bản làng Điện Biên trang 143 QHQOK tập 4                                                                                                                           (7) Sáo diều là cả một công trình nghệ thuật dân gian đặc biệt, từ diều đến sáo công việc rất phức tạp. Hiện nay làng diều Đình Cúc, xã Bắc Sơn, huyện Sóc Sơn, Hà Nội đang thực hiện con diều khổng lồ, dự kiến sẽ cất cánh trong Đại lễ 1.000 năm Thăng Long - Hà Nội.                                                                                                                                                 (8)Một bài báo trên Internet: Bác sỹ Trương Văn Lợi, giám đốc bệnh viện Y học cổ truyền Hưng Yên, cho biết: Trong y học, trúc đào được sử dụng như một loại thuốc cường tim, trợ tim thì khi dùng cũng phải hết sức cẩn trọng, vì do mức độ nguy hiểm mà lâu nay y học đã thay thế nó bằng những hợp chất khác an toàn hơn. Nhiều trường hợp không ăn trực tiếp, chỉ cần hít phải khói từ việc đốt cây trúc đào, dùng cành cây xỉa răng hay uống nước có lá, hoa trúc đào rụng xuống cũng gây ngộ độc. Sau khi đi vào cơ thể, độc tố phát tán nhanh, gây ra những triệu chứng: đau đầu, chóng mặt, nôn mửa, ngộ độc nặng có thể dẫn tới trụy tim, tụt huyết áp, hôn mê.                                                (9) Hòn Kẽm Đá Dừng trang 129 QHQOK tập 7.

 

 Back Previous  Next

 

 

 

 

 

 

click để nghe nhạc