|
|
||
|
|
||
NƠI XỨ NGƯỜI IINói về tinh thần dân chủ đúng là “nước ta” có một nền dân chủ siêu đẳng, “gấp triệu lần” bọn tư bản. Cứ nhìn sự mua bán tiêu dùng của dân chúng thì biết. Rau dơ, rau sạch, rau an toàn, rau có kiểm dịch, rau siêu sạch...mỗi loại mỗi giá, tùy thích người dùng. Nhà sách, tiệm ăn, có kèm thêm “tự chọn”, ý nói tôn trọng quyền chọn lựa của người tiêu dùng. Có lẽ để đề cao sự đổi mới từ thời bao cấp tem phiếu. Thời mua hàng mậu dịch, có hàng là quí, hư thối không cần, không quyền chọn lựa. Di chứng một thời còn ám ảnh người dân nên nơi nào có “tự chọn” thì vào, yên tâm hơn. “Nhà sách tự chọn”, “Vé số tự chọn”, “Cửa hàng ăn uống tự chọn”...Các nước khác, không hề có nhiều mặt hàng từ bẩn đến an toàn cho khách chọn. Tuy không nói khách “tự chọn”, nhưng chẳng ai bị bắt ép mua thứ này thứ nọ, trái lại mua về dùng không thích cứ mang trả lấy lại tiền. Dân mình quen sống với khẩu hiệu nên vẫn thích vuốt ve theo kiểu “tự chọn”, dù hàng mua có hư thối ra khỏi cửa là xong. Ai bảo mình “tự chọn”! Chuyện bên lề như thế cũng đã dài, xin trở lại chuyện nước Mỹ. Hai tháng đầu khi đến Mỹ, tôi ở nhờ nhà người quen, sau đó mướn một apartment, vợ chồng con cái gói ghém cũng tạm ổn. Rồi do chuyện “đa mang” nên nẩy ý đi tìm nhà thuê. May mắn thuê được cái nhà của một người làm ăn tiểu bang xa, ngôi nhà chỉ hai phòng nhưng có khu vườn rộng mấy nghìn “square feet”. Nhà nhỏ vườn rộng là đúng “yêu cầu” của tôi: Tôi làm một vườn cây kiểng. Đây là nợ mang từ bên nhà. Khi ra đi tuy đã có người mua nguyên vườn kiểng (1), tưởng thế là dứt được nợ trần, nhưng nợ tự trong người nên người đâu nợ đó, dần dà tôi lại trở về món chơi ngày còn lận đận ở quê nhà (2). Điều ngược đời, sống trong một xã hội thiếu thốn mọi bề mà lại chơi trò trưởng giả: Trồng kiểng, nuôi chim. Có những thứ tưởng chỉ dành cho giới sang giàu, thực tế ngược lại, giàu sang khó mà có cơ hội thưởng thức. Càng giàu càng bị lôi cuốn vào con đường làm tiền, không còn tâm trí, không còn thì giờ để nhìn lại mình. Nhiều người ngồi trên đống vàng mà than khổ. Khổ nhưng cứ phải ôm. Lại cũng có khi do hoàn cảnh xã hội, chuyện dễ xứ này lại khó xứ kia. Một Việt Kiều ở Thụy Sĩ về (con gái BS Thạch ở Nha Trang) nghe tiếng tôi chơi “chim hoa cá kiểng” đã tìm đến thăm, chị ngạc nhiên và bảo: “Anh vầy là vua rồi, ở nước ngoài nuôi một con chim thôi cũng không phải dễ, anh có cả trăm lồng chim đủ loại, suốt ngày trà nước nghe chim ca hát...”. Chị kể, mấy năm trước về thăm nhà, lúc trở ra, thấy người ta bán chim két, chỉ mấy đồng một con, chị mua một cặp. Lúc máy đáp xuống Thụy Sĩ, hai con két bị giữ lại để khám nghiệm. Ba hôm sau một con chết, lại phải giải phẫu tìm nguyên nhân tại sao chim chết. Sau đó chị được thông báo đến đóng chi phí mấy trăm đô la, con két còn lại phải gửi qua một hội bảo vệ súc vật bên Đức, đây là loài chim “quí hiếm”, không được phép nuôi. Câu chuyện nuôi chim của chị Việt Kiều làm tôi hả hê một lúc, cứ tưởng mình là vua thật. Chị ra về, tôi sực tỉnh, mình “làm vua” là vì không được “làm dân” chứ danh giá gì. Về sau tôi còn biết nhiều chuyện về thú nuôi trong nhà (Pet). Với người Tây Phương, cái chết một con vật (Pet) cũng được lo lắng như cái chết của người. Cũng “ma chay mồ mả” đàng hoàng, có khi chủ qua đời để lại gia tài bạc triệu cho con chó. Mới đây lại có tin, một bà Đầm bỏ ra 150 nghìn đô tái tạo con chó của bà bị chết bằng phương phap dùng tế bào gốc. Ấy thế mà xứ mình người ta thường miệt thị nhau: “Chết như chó chết”. Cho rằng chó chết là đồ vứt đi, chẳng ai thèm đếm xỉa. Thực tế, một con chó bị xe cán là có người tha đi ngay, và sẽ được “mổ xẻ” cẩn thận không kém. Rồi được đầu bếp danh tiếng chế biến thành nhiều món độc đáo. Thế mới có câu: “Sống trên đời không ăn miếng dồi chó, chết xuống âm phủ biết có hay không”. Tôi làm “ông trưởng giả”(3) được bốn năm thì bà chủ cho hay bán nhà, phải dọn ra trong vòng 30 ngày. Cứ bình thường đồ đạc như mọi người thì chuyện chẳng có gì đáng nói, đằng này một vườn cây kiểng núi non, lều cốc thế mới gay, phải tìm cách bán tống bán tháo cho rảnh tay mà đi. Ngày nào tôi cũng ngang qua các chợ xem quảng cáo “Phòng cho share”. Cuối cùng cũng kiếm được một phòng, phòng riêng nhưng vào ra chung cửa, chung restroom, chung bếp, và phải chịu đựng mọi thứ với nhau. Gì cũng được duy chỉ có Karaoke mỗi đêm kéo dài tới một hai giờ sáng khiến tôi phải tìm đường “di tản” (4). Một thời gian sau, người thuê mua nhà mới, tôi trở thành chủ căn nhà. Nhà hai phòng nên tôi lại dán giấy rao ở chợ: “Phòng cho share”. Một người đàn ông đứng tuổi đến, trao đổi với tôi một lúc, anh ta bằng lòng giá cả và “deposit” ngay để đầu tháng dọn vào. Lần đầu tiên tôi gặp một người khá đặc biệt. Anh đến nước Mỹ bằng con đường vượt biển. Anh đã có vợ, một con, có công ăn việc làm, chơi Stock...và rồi anh trắng tay. Trắng tay gần như homeless. Vợ con bỏ, thua Stock sạch gia tài, thất nghiệp, anh xin tiền GR. Anh tâm sự: - Em thấy đời vô nghĩa quá anh à, bây giờ đi tu là vừa. Tôi thành thực trả lời anh:
Anh cũng như tôi, suốt ngày ở trong phòng, không biết anh làm gì, không thấy anh sử dụng máy móc, anh chỉ ra ngoài khi nấu ăn. Tuy chán đời nhưng anh ăn uống rất tươm tất, thịt cá ê hề, tôm hùm (Lobster) mua lần mấy pound cất tủ lạnh. Người anh muốn béo phì. Một hôm nhân lúc tôi ra ăn trưa, anh hỏi:
Thì ra lâu nay anh ở trong phòng để “tu niệm Phật”. Tôi suy nghĩ một lúc rồi hỏi lại anh:
- Vậy trước sau gì người nào cũng về tới Santa Ana, vấn đề quan trọng là có muốn đi hay không. Anh yên lặng ra điều suy nghĩ. Từ đó hể mỗi khi nghe tôi ra khỏi phòng, anh ra theo. Và lần nào cũng có một vài câu hỏi về chuyện tu hành. Anh có trí nhớ khá tốt, anh đọc nhiều sách, anh nói chuyện có nghĩa lí mà lắm lúc rất ngây thơ. Có lần anh đưa ra một bức tranh vẽ cảnh đồng quê, anh hỏi ý kiến tôi:
Tranh anh vẽ bằng màu nước, nét vẽ thực thà. Tôi khen lấy lệ.
Anh có gene nghệ sĩ của ông bố, anh cặm cụi suốt ngày niệm Phật và vẽ tranh. Thỉnh thoảng thấy anh lái xe về vợ cũ thăm con, một bữa nọ anh lại mang bức tranh ra nhờ xem tiếp:
Tất nhiên tôi trả lời xuôi, chứ thì giờ đâu mà ý kiến. Anh lại tưởng tôi tán thưởng nên mỗi khi có gì lạ trong tranh cũng đem hỏi. Đã 5 tháng mà tác phẩm anh vẫn chưa xong. Khi thêm sen nở khi bớt sen tàn, lại bò trâu trên đê, chim cò trên đồng lúa...Anh thực thà cho biết: “Em vẽ đúng 62 người thợ gặt anh ạ”. Hình người li ti như hạt gạo thế mà anh dùng kính lúp đếm không sót. Anh là một họa sĩ hiếm thấy. Một hôm có điện thoại, giọng một người đàn bà: “Thưa ông là ông Nhung? Tôi là chị cậu Nghĩa, tôi có nghe cậu Nghĩa nói nhiều về ông. Tôi định hôm nào đến thăm ông, xin ông chỉ cho cách để tu”. Thế này thì nguy to, nhà họa sĩ đã thổi phồng tôi thành quả khinh khí cầu. Tôi thóai thác: “Bà nên hỏi các thầy ở chùa, tôi chỉ biết lõm bõm trao đổi với anh Nghĩa cho vui thôi”. Anh sống bên cạnh mà như không có, tôi rất hài lòng, nhờ sự yên tĩnh tôi làm được nhiều việc. Nhưng những lúc biển êm người ta lại bảo là dấu hiệu có bão. Thắm thoắt đã hai năm qua, xóm làng yên thắm. Đùng một cái, anh có chuyện lôi thôi với cậu ở cạnh nhà, rồi anh dọn đi nơi khác. Chuyện do anh de xe vào ga ra, đã quẹt xe hàng xóm. Hai bên to tiếng đi đến ẩu đả, chỉ vì anh lo niệm phật mà quên câu: “Nhất niệm sân tâm khởi, bách vạn chướng môn khai”.(Để sân hận nổi lên là trăm vạn chướng ngại bung ra). Lại dán giấy “Phòng cho share”, chỉ mấy hôm có một thanh niên đến. Cũng mau mắn như anh Nghĩa, anh bạn trẻ độc thân, đồ đạc đơn giản, làm ban đêm ngủ ban ngày. Gia tài anh có chiếc xe Toyota mới cáo cạnh cất ga ra, anh đi làm bằng xe đạp. Xe không chạy nhưng một tuần anh lau xe ba lần. Anh bảo thì giờ không làm gì, lau xe cho vui, anh chun xuống dứới gầm xe lau từng hạt bụi. Anh vui mà sao tôi thấy anh khổ quá, ngày đêm cứ lẩn quẩn với chiếc xe. Anh nhờ tôi ban đêm nếu nghe động tịnh coi giùm anh. Xe để trong carport ngay cửa bước vào nhà, nhà ở cuối driveway, xa đường hơn 100m nhưng anh không yên tâm. Anh mua tấm nhựa trắng lớn để che cho người ngoài đường không nom thấy xe anh. Hàng xóm nhìn vào tưởng nhà có ma chay. Anh ở chỉ vài tháng rồi đi, anh đi tìm một chỗ thật an toàn cho chiếc xe của anh. Người đời lấy của che thân, anh lấy thân che của. Ai thấy anh khổ chứ anh thì tỏ ra rất hạnh phúc, tưởng như đã đạt được lý tưởng của đời mình. Tháng 8 – 2009 (1) Buồn Vui Nghề Chơi Cây Kiểng của tác giả. (2) Thực ra đây cũng là ý đồ mưu sinh. Có lần tôi đến Huntington Library trên Free Way 10, thấy vườn Bonsai chừng vai mươi chậu do người tặng, nhìn qua tôi biết là không có tay chuyên môn “take care”, cây không cắt tỉa, lại dùng giây kẽm buộc lung tung. Tôi chợt có ý nghĩ tìm cách vào làm “người giữ vườn”, vừa có cơm ăn vừa thỏa mãn thú riêng. Nhưng, vào bằng con đường “khoa cử” thì gay, tôi phác họa kế hoạch 3 năm: Đào cây rừng (California Juniper) làm 1 vườn 100 chậu Boasai cỡ “võ sĩ hạng nặng”, gọi là “Bách gia chư tử”. Tôi sẽ mời Ban Giám Đốc Library xuống xem và đề nghị tặng nguyên khu vườn. Chắc chắn họ sẽ không nở từ chối. Điều kiện: Tôi phải là người trực tiếp săn sóc cây. Vườn tôi tặng mang tên tôi. Từ ý nghĩ đó, suốt 2 năm trời, tôi đã thực hiện được 1/2 công trình thì phải lên bàn mổ. Lại một lần nữa định mệnh không cho phép tôi “làm thật” bất cứ gì, “làm chơi” thì được. Thôi đành gói ghém tiện tặn mà chơi vậy. (3) Thực ra “trưởng giả” của tôi là có ý đồ: Đặt chân xuống đất Mỹ, sau khi lấy được bằng lái xe, tôi làm ngay một cuộc thăm dò địa hình địa vật các quận hạt quanh vùng tôi ở. Hôm đến Huntington Library ở trên FW 10 tôi vào xem một vườn Nhật (Japanese Garden), vườn có khoảng vài chục chậu Bonsai độc đáo (có lẽ do người Nhật tặng). Có điều lạ là cây quí vậy nhưng dường như không người chăm nom. Nhiều cây không cắt tỉa, lại dùng giây kẽm núi kéo hay buộc những chỗ gãy. Tôi nghĩ vậy là ở đây không người chuyên môn. Tôi nãy ý muốn làm một vườn Bonsai khoảng 100 cây (Bách gia chư tử) rồi mời ban giám đốc Library xuống thăm, tôi sẽ tặng nguyên vườn với điều kiện tôi phải trực tiếp săn sóc cây, và vườn để tên người tặng. Như vậy là một mũi tên hai con nhạn: Vừa có việc làm vừa có “tên tuổi”. Nhưng “mưu sự tại nhân thành sự tại thiên”, khi thực hiện được 2/3 công trình thì do sức khỏe bác sĩ cấm làm việc nặng, đành chuyển qua con đường khác. (4) Ngủ chùa trong Thăng Trầm
|
||
|
click để nghe nhạc |