|
|
|||
|
|||
NƠI XỨ NGƯỜI
Ngày mới đặt chân lên đất Mỹ, tôi chóang ngợp đủ mọi thứ, từ đường sá, nhà cửa, xe cộ, đến đời sống con người. Nếu không đi, khó mà tưởng tượng thực tế như thế nào. Tôi như con rùa từ dưới biển bò lên, tôi lạc vào một thế giới hòan tòan khác với nơi chôn nhau cắt rốn, một xứ sở chiến tranh chết chó triền miên. Chắc chắn nhiều người cũng có tâm trạng như tôi. Đây là cuộc “đổi đời” thực sự. Từ chỗ tối tăm lạc hậu ra nơi đầy ánh sáng văn minh, từ chỗ cơm khoai là chính đến chỗ thịt cá dư thừa, chứ ai lại từ nơi ngập ánh đèn màu, rơi tỏm vào vùng bóng tối, từ anh thầy giáo xuống làm “công nhân môi trường” (1) mà tự hào là “đổi đời”! Tôi cho mình còn may mắn dù có muộn màng, may mắn hơn hàng triệu người đang ước ao được cơ hội như tôi. Hàng triệu người đã tan gia bại sản, đã phải vào tù ra khám cho ước mơ của mình. Ước mơ đó, ngày nay vẫn còn âm ỷ. Cứ nhìn từng đoàn người “xuất khẩu lao động”, từng tốp phụ nữ “theo chồng” về Đài Loan, Nam Hàn, hay đi làm “ô xin” khắp nơi trên thế giới. Đã có hàng trăm người lao động ở nước ngoài, chết không lý do, đã có những “cô dâu” bị hành hạ đến bức tử, đã có những phụ nữ thoát khỏi lầu xanh tìm về quê cũ. Cũng có người sau ngày cưới đã bị giết trước khi lên máy bay theo chồng(2)...Bao nhiêu thảm cảnh xẩy ra cũng chỉ vì ước muốn “đổi đời”. Chỉ có việc áo cơm, mà biết bao đau khổ nhọc nhằn lại còn nhục quốc thể nữa. Sau phút choáng ngợp là sự ngỡ ngàng, lúng túng, làm sao để nhập vào với dòng xe đang chạy ào ào như bão thổi trên freeway, làm sao để có được việc làm đủ ngày hai bữa. Không đơn giản. Rồi ngày tháng qua, tôi cũng như mọi người đến trước, từ từ đi vào “nề nếp”. Có một điều tôi nhận ra ngay là xã hội Mỹ, luật lệ không chạy lung tung ngoài đường, không khẩu hiệu, không biểu ngữ băng rôn, không yêu cầu người dân đóng thuế, không bắt dân phải tin chính phủ, phải yêu nước, phải nín đẻ, mà chỉ có bảng hướng dẫn người dân đi đúng luật, xe chạy đúng đường. Ấy thế mà mọi chuyện đều răm rắp. Họa hoằn mới thấy xe cảnh sát, mới nghe tiếng còi hụ của xe cứu hỏa, do nơi nào đó có tai nạn xẩy ra. Và tôi chợt nhận ra, một điều nghịch lý: Ở Mỹ làm ra tiền lại ở nhà thuê. Không riêng dân nhập cư mà cả dân bản xứ. Nhà thuê rất đa dạng: Room for rent, apartment for rent, house for rent... “Sống nhà, thác mồ”, ông bà mình xưa nay đã dạy thế. “Một mái nhà tranh hai quả tim vàng”, thế gian đã ca ngợi vậy. Nhỏ sống với bố mẹ, lớn lên có vợ có chồng, phải lo cái nhà trước đã. Chín mươi phần trăm gười Việt sống về nghề nông nên chuyện làm một mái nhà để ở không đòi hỏi tiền “down”, tiền “loan”. Muốn có nhà? Họ tự vào rừng đốn cây, năm này qua năm nọ, cho đến khi đủ dựng một nếp nhà vừa nhu cầu của mình. Tại thành phố thì sống nhờ bố mẹ, dành dụm đến khi đủ tiền mua nhà. Hoặc, trước khi lập gia đình, cha mẹ đã chuẩn bị sẵn nhà cho, nghĩa là mái nhà riêng là mục tiêu hàng đầu của đời người. Nhà là gốc gác của gia đình, là tổ ấm nên người ta thường bảo: “An cư lạc nghiệp”, có ở yên mới tính chuyện làm ăn. Tại Việt Nam (trước 75) ít khi thấy nhà cho thuê. Và nhà thuê cũng chỉ dành cho người độc thân, học sinh sinh viên. Có gia đình, không mấy ai đi thuê nhà. Ở Mỹ, chuyện thuê nhà là bình thường, thành phố nào cũng đầy những building cho thuê. Một “bedroom”, hai “bedroom”, lúc đầu tôi cứ tưởng một “bed room” là một phòng đơn độc, mọi thứ dồn vào đấy, từ bếp núc, vệ sinh, ngủ ngáy...Nhưng không, một “bed room” mà có đầy đủ như một ngôi nhà: Phòng ngủ, phòng ăn, nhà bếp, nhà tắm...nói theo kiểu Việt Nam bây giờ là một “căn hộ”. Người Mỹ quan niệm việc mới quan trọng, làm việc nơi nào ở nơi đó, không bị trói chân vào cái nhà. Đấy cũng là lý do tại sao khắp nước Mỹ đều có nhà cho thuê. Và có thể đảo câu tục ngữ của Việt Nam cho người Mỹ: “Lạc nghiệp an cư”, nghe cũng lợp tình. Trong cộng đồng người Việt còn có chuyện “share” phòng. Trên trang quảng cáo, báo nào cũng có mục này, hoặc ra các chợ Việt sẽ thấy dán giấy : “Cho share phòng. Ưu tiên người độc thân, không nấu nướng, không hút thuốc, không ồn ào”. Tùy hoàn cảnh có khi giới hạn riêng nam hoặc nữ hay người lớn tuổi. Tôi đã từng ở apartment, nhà riêng (house), và rồi share phòng. Theo biểu đồ thì sự chuyển đổi của tôi là một đường parabol. Điểm cao nhất là nhà thuê (house), nhà có garage, có vuờn rộng, cổng ngõ riêng không chung đụng ai. Qua Mỹ mà ở “nhà house” là hách lắm. Bình dân ở apartment,“share phòng” là chuyện bất đắc dĩ, gọi là sống lang thang. Sự đổi thay nơi ăn chốn ở của một người dường như cũng được “số trời” định sẵn. Có người từ khi ra đời cho đến ngày vào nghĩa trang chỉ làm một nơi ở một chỗ. Có người nổi trôi từ tấm bé, cuộc đời cứ như chiếc thuyền nan giữa biển khơi bão tố. Tôi nhớ hồi còn đi học, thầy giáo có nói một câu châm ngôn mà mãi về sau tôi mới có dịp chứng nghiệm: “Thương cho ai sinh ra tại nhà thờ và cũng chết tại nhà thờ”. Hóa ra một cuộc sống an bình lại là một bất hạnh! Đa mang thì đa truân, điều ai cũng thấy, trong nhà chùa cũng bảo : “Thọ thì khổ” (ôm vào thì khổ), nhưng giữa cuộc sống quay cuồng theo đà tăng tốc ai mà tránh được chuyện “đa mang”! Mỗi người rồi không mang thứ nọ cũng thứ kia. Mấy nghìn năm trước Đức Phật chỉ mang mỗi bình bát đi khất thực mà còn thấy cõi trần nặng nề ô trược huống gì chúng ta mang bao thứ trên người. Tôi cũng vì vậy mà vất vả chuyện ăn ở. Trên đất Mỹ, cái ăn không đáng lo, bởi không tốn bao nhiêu so với bên nhà, nhưng chốn ở là điều không đơn giản. Có người phải chi nửa tiền lương để có một chỗ nghỉ ngơi. Làm quần quật ngày 8 tiếng, có khi 12 tiếng, không một chỗ ở tiện nghi thì khó mà kham nổi công việc. Làm việc ở xứ người nhiều ít là tự mình chứ không do chủ. Càng làm càng có tiền, làm ngoài giờ lương tăng gấp rưỡi, ai dại gì không làm. Tiền nào của nấy, lương công nhân không đủ ăn sáng thì việc làm đại khái qua loa, sản phẩm hư hỏng yếu kém là thường. Hàng hóa những nước kém phát triển, “xuất khẩu” ra rồi “nhập khẩu” về. Những năm sau “giải phóng” tôi đã được vinh dự thưởng thức những món “hàng hồi hương” vì kém phẩm chất. Hai giáo viên 1 chai bia, 4 giáo viên 1 bánh trung thu (thời 75-76). Ai cũng vui vẻ bảo: “Xấu người tốt ta, chẳng chết thằng Tây nào”. “Chẳng chết thằng Tây nào” là lối ngụy biện cho nhiều trường hợp chẳng đặng đừng. Thực phẩm độc hại, nguồn nước dơ bẩn, không khí ô nhiễm, “chẳng chết thằng Tây nào”. Cứ ăn, cứ uống, cứ “hồ hởi” vui chơi...Khi bệnh chết, đúng là chẳng chết thằng Tây nào, mà mình chết. Nhưng thực lòng mà nói, lúc ấy sao thứ gì cũng ngon cũng quí đến phát thèm. Chính tôi rút ra nguyên tắc này để “hành nghề” nuôi chim sau ngày đi tù cải tạo về.(3) Đã có những vùng đàn ông ung thư chết hết, chỉ còn đàn bà. Người Việt có cuộc sống thật can đảm, không từ bất cứ mầm độc hại nào, bất kể do đâu, có khi tự chính mình tạo ra: Hàn the, formone, và hàng trăm hóa chất dùng trong “công nghệ nuôi trồng sản xuất”, đã tạo ra bao nguồn bệnh kỳ lạ, bao dị dạng quái thai. Không ai kêu ca chuyện tác hại trong nhà, mà lo đi kiện thằng hàng xóm “rằng thì là” đời ông cố nó chơi xấu rắc chất độc “da quít” qua vườn nhà mình nên nay con cháu què cụt, tái xanh như suy dinh dưỡng. Thằng cha hàng xóm cũng ra điều lịch sự, mở rộng cửa, cho phép mình mang thầy kiện vô nhà, lo bàn ghế, cơm nước để mình kiện nó. Ý chừng nó bảo : “Thiệt vàng không sợ chi lửa”. Sự tử tế có hơi ngược đời, xứ mình đừng hòng, trong nhà còn gay nói chi người ngoài. Hay đây cũng là cách “giáo dục”, “Thương cho roi cho vọt, ghét cho ngọt cho bùi”. Tháng 8 – 2009 (1) Tiếng Việt ngày trước nghĩa là "phu hốt rác "(2) Tin báo trong nước: Lao động chết ở Malaysia, cô dâu bị đánh chết ở Hàn quốc, phụ nữ bị đem ra chợ bán...báo Tuổi trẻ ngày 18-7-08 : Hơn trăm cô gái “trình diễn “ cho người Hàn Quốc chọn vợ. Trình diễn có nghĩa là thoát y như nhộng, khách thoải mái xem tì vết “núi đồi” rồi ngảgiá. (3) Đọc Buồn Vui Nghề Chơi Cây Kiểng trang11
|
|||
|
click để nghe nhạc |