Lễ hội Dolta
Lễ hội là hình thức vui chơi trong dịp mừng năm mới, mừng được mùa, hay kỷ niệm những ngày lịch sử trọng đại. Mỗi dân tộc tùy phong tục mà hình thức lễ hội được tổ chức khác nhau. Việt Nam tuy không gọi là “Hợp Chủng Quốc” nhưng thực tế có đến 54 sắc tộc cùng sống trên dải đất hình chữ S nhỏ bé kéo dài từ Móng Cái đến mũi Cà Mau. Do đó sắc màu lễ hội vô cùng đa dạng. Các trò chơi trong lễ hội khác nhau theo ý nghĩa lễ hội từng địa phương. Tây Nguyên có lễ hội đâm trâu, Hải Phòng có lễ hội chọi trâu (1), các tỉnh miền Trung có đua thuyền, đô vật, “đổ giàn” (2). Đặc biệt miền Tây Nam Bộ có môn Đua Bò trong dịp Tết Dolta của đồng bào gốc Khmer.
Đua bò nghe quả thật lạ tai, xưa giờ chỉ có đua ngựa đua xe, đua thuyền hay chạy đua, không nghe nói đua bò. Bò nặng nề chậm chạp, không thể phi nước đại như ngựa. Tây Ban Nha có ngày hội thả bò trong thành phố, người chạy trước bò đuổi sau, có khi bị bò đạp gây thương tích hoặc chết, người xem có hào hứng hồi hộp nhưng chẳng có gì thi đua.
(trích QHQOK tập 10)
Chùa Bà Đanh
Thành ngữ “Vắng như chùa Bà Đanh” ai cũng đã nghe đã biết, nhưng chùa ra sao, ở nơi nào thì ít ai rõ. Chùa mà vắng là điều ít có, không người lễ bái, dựng chùa làm gì. Xưa nay chùa đều do Hòa Thượng, Sư Ông tạo lập và có tên chữ đàng hoàng như: Long Sơn Tự (Nha Trang), Thánh Duyên Tự (Túy Vân Huế), Thiên Ấn Tự (Quảng Ngãi)..., đây lại do một người đàn bà, điều khác thường. Chùa Bà Đanh được truyền tụng qua nhiều đời chỉ vì chùa hoang vắng:
Còn duyên kẻ đón người đưa
Hết duyên vắng ngắt như chùa Bà Đanh.
Thưở nhỏ, tôi đã phân vân, hỏi người lớn chẳng ai trả lời, nên chỉ hiểu cách mơ hồ, một nơi chốn hiu quạnh chứ không hình dung được gì. Chùa Bà Đanh như một bí tích. Cho đến những ngày “giang hồ lưu lạc” đó đây, dù xa xôi hóc hiểm cũng cố tìm cho ra chùa Bà Đanh, tôi nghĩ mình chạy xe máy sẽ dễ dàng hơn theo “xe ôm” (1).
Một buổi sáng bên bờ hồ Hoàn Kiếm tôi hỏi một ông cụ, tưởng hỏi cho có chuyện không ngờ ông lão rành rẽ cho biết: Chùa Bà Đanh là tên Nôm của chùa Châu Lâm. Chùa này được cất đồng thời với viện Châu Lâm vào thời vua Lê Thánh Tông (1460-1497) ở làng Thụy Chương, Hà Nội. Vì tránh húy miếu vua Thiệu Trị nên Thụy Chương phải đổi thành Thụy Khuê. Vào thời đó, viện Châu Lâm dùng làm chỗ ở cho những người Chiêm Thành thua trận bị bắt về, còn chùa Châu Lâm là nơi dành cho họ lễ bái. Sau khi người Pháp chiếm đóng Hà Nội, họ dùng khu vực này xây trường trung học bảo hộ (1907) - nay là trường Chu Văn An, và chùa Châu Lâm dời về phía cuối làng Thụy Khê, đổi tên mới là Phúc Lâm. Dấu tích của chùa Phúc Lâm hiện còn tấm bia ghi: Bà Đanh Tự (chùa Bà Đanh). Tương truyền, Bà Đanh là người đàn bà đã có công lập chùa này, nên chùa mang tên bà. Từ khi viện Châu Lâm bị bãi bỏ, số người đến lễ bái ít dần, chùa ngày càng vắng vẻ. Một chùa Bà Đanh khác đến nay vẫn còn và dường như đang được trùng tu, chùa ấy ở huyện Kim Bảng tỉnh Hà Nam”. Nghe qua tôi thấy rất hứng thú về đề tài “Chùa Bà Đanh”, hỏi thêm ông lão vài chi tiết đường đi Kim Bảng, hôm nào chạy xe (máy ) vào sẽ tìm thăm. Tôi tin đây mới là chùa Bà Đanh như lời đồn xưa nay. Chùa Bà Đanh vậy là có thật chứ không phải chuyện ví von của người đời.
(trích QHQOK tập 10)
Trên đây là một số đoạn ....... trích trong QHQOK tập X sách dày trên 200 trang, có nhiều phụ bản ảnh màu, những tác phẩm ưng ý của tác giả . (mời xem phần Liên Lạc để biết thêm)