Mỗi lần ngang qua Huế tôi đều tìm gặp thăm bạn bè xưa xem ai còn ai mất. Gặp nhau ôn lại chuyện cũ thuở thanh bình, thời mà ai cũng thấy cuộc đời tươi sáng đầy hứa hẹn, dốc lòng cho sự nghiệp sách bài thi cử. Và, ít nhiều ai cũng được đền bù xứng đáng với công lao của mình. Nhưng sau cuộc “đổi đời” cay nghiệt, xã hội tan nát tanh bành, mỗi người một phương, cứ theo dòng đời mà trôi dạt khắp năm châu.
Bạn tôi, Ngô Kim Thùy, người của thành phố cổ Bao Vinh, sau ngày giã từ bục giảng về nằm nhà chuyên dịch các tiểu thuyết Anh Mỹ kiếm tiền độ nhật. Có lần tôi nhắc đến anh trong một bài viết nào đó, học trò của anh ở hải ngoại đọc được, viết thư thăm anh có kèm biếu anh 50 đô, món quà không lớn nhưng cho thấy tình nghĩa vẫn còn dù đời “lắm chua cay”. Nhớ những người cùng chung lớp sư phạm năm nào, anh cho hay Lê Đình Nam chết ngoài biển đông, Hoàng Hinh (em hay cháu GS Huỳnh Hòa) chết trận, Tôn Thất Vân còn ở Huế, khi tỉnh khi say, Trịnh Ngọc Răng ở Mỹ về, bịnh chết cách nay mấy tháng. Trịnh Ngọc Răng chuyên về dầu mỏ, từng làm việc ở Irac, nghe nói công ty xăng dầu của phó tổng thống Cheney (1). Trần An vẫn còn ở Úc…Chuyện cũ thì buồn nhiều hơn vui nên anh em chỉ lướt sơ rồi quay về thực tại. Thùy hỏi:
- Cậu vẫn lang thang gió bụi dọc đường cho QHQOK hỉ?
- Thì trót chui vào con đường này hơn 10 năm nay, giờ có muốn ra chẳng ai chịu cho ra. Mình mới từ Đồng Hới vô sáng ni.
- Tau mừng cho cậu, vậy là cậu được ưu đãi lắm đó, mình thì cứ mỗi ngày mỗi co cụm, không biết rồi ra răng. Mà nói thiệt, chừ có cho tau làm Nguyễn Du để làm chuyện như cậu, cũng không ham.
Anh bạn nhìn lên mái nhà rồi than:
- Nghe nói dạo ni người ta đi mua nhà rường dữ lắm, thằng mô mua nhà ni tau bán quách 200 triệu rồi làm cái nhà nhỏ ở được rồi.
- Rứa cũng được, mình thấy khắp nơi họ đi lùng sục nhà rường, thế nào cũng có người hỏi, cậu phải cẩn thận không thì hớ đó.
- Tau chỉ cần có người mua là phước, hớ hênh lo chi.
Đúng là ở đời không có gì cố định cứng ngắc, đồ vật hay con người, giá trị cao thấp tùy thời cuộc, tùy nơi chốn, tùy sở thích, biến thiên không biết đâu mà lường. Hôm qua làm thầy nay làm thợ, nơi này làm tướng ba quân, qua nơi kia thành tên lưu manh lừa đảo. Vì lẽ đó mà bạn tôi chẳng bận tâm về chuyện thiệt hơn.
Nhà của Thùy là một trong mấy ngôi nhà cổ còn lại của phố Bao Vinh. Thùy cho biết mới đây thượng viện Pháp có tài trợ bốn nhà thuộc loại cổ: Nhà số 93 – 99 – 105 và nhà anh. Tuy nhiên phải giấy tờ ký kết đủ thứ nên anh không nhận. Anh bảo muốn sửa thế nào thì cứ cho tiền rồi anh sửa, anh không thích trò trao qua tráo lại, mất thì giờ mà chẳng được gì. Thế là nhà anh bị loại.
Thấy còn nhiều thì giờ, tôi gợi ý: “Chừ mình chạy quanh Bao Vinh một tí rồi trở lại, tụi mình kiếm chi ăn cho vui, cậu gọi Thể có rảnh thì xuống luôn”. – “Bên kia đường có quán cháo vịt qua đó cho khỏe chớ đi mô nữa”. Tôi thích tính Thùy chân chất đơn giản, không ưa đòi hỏi, bày vẽ. Đã có lần tôi mời một bạn cũ đi ăn bánh khoái Huế, anh phê ngay một câu chát ngắt: “Ở Mỹ về mà ăn bánh khoái?”
Quả thật tôi ít khi coi chuyện ăn uống như một tìm tòi khám phá hay phải vất vả này nọ, đến một nơi nào nếu thích thì chọn món đặc biệt của địa phương thưởng thức cho biết. Huế có “Bánh cuốn thịt nướng” Huyền Anh trên cầu Kim Long, có bánh khoái bến đò Cồn hay Điện Biên Phủ, ra Cửa Lò có cháo lươn. Thô mộc vậy mà cũng đã nhiều phen đi “cấp cứu” vì nhà hàng. Tuy nhiên thói đời cho mình kém hào hoa phong nhã. Nói cho đúng, nếu theo lối hào hoa của các “cô chiêu cậu ấm” thời nay thì dốc hết hầu bao của “Việt Kiều” may ra được một bữa. Vã lại, ăn uống chỉ là cái cớ gặp gỡ chuyện trò chứ không phải để say sưa hò hét.
Có lần qua Phan Thiết, quen một cô “người mẫu” dáng thanh nhã, nói năng nhẹ nhàng lại có máu văn nghệ, tôi nhờ tìm một món đặc sản: Lẩu cá. Cô đưa tôi đi ngòng nghoèo qua nhiều khu phố rồi vào một nhà hàng. Trời bắt đầu đổ mưa, cơn mưa xua đi bao nhiêu nóng bức bụi bặm của phố phường. Tôi nghĩ, “Khi nên trời cũng chiều người”, nếu không mưa mà ngồi ôm nồi lẩu nóng hừng hực, dù có sơn hào hải vị cũng bằng không. Tôi để cho “người mẫu” tự do kêu món, hầu bàn ghi order quay vào thì “người mẫu” rút phôn tay gọi thêm mấy người bạn nữa đến “tham gia”. Tôi lấy làm lạ nhưng lờ đi cho cô tự nhiên. Cái hình ảnh một góc quán êm đềm tiếng nhạc, chuyện trò tỉ tê với một người mới gặp đã biến thành bàn tiệc huyên thuyên chuyện trên trời dưới đất. “Đây là Thảo đi lao động hàn quốc về, đây là Thanh từ Đài Loan về, đây là Liễu Malaysia về…”. Bổng nhiên tôi được làm chủ một tiệc khoản đãi mang tính quốc tế, những vị khách đại diện của các nước trong khu vực, những người mình chưa hề quen. Rồi các cô thi nhau gọi bia, không phải Sài Gòn Hà Nội mà Heineken. Tôi ghi nhận, đây là hình ảnh của kinh tế thị trường thu hẹp. Ai cũng “tranh thủ” khai thác tối đa khi gặp cơ hội, “tiến nhanh tiến mạnh, tiến vững chắc” đạt thắng lợi vẻ vang. Màn lẩu cá kéo dài từ chiều đến tối mịt, tôi tưởng tan hàng để về khách sạn thì các cô lại đưa đi nhà hàng kem ly nổi tiếng. Cái này là “bụng làm dạ chịu”, tôi chỉ còn mong sao bao tử các cô đầy nhanh để thả tôi về. Suốt một ngày chạy đi Mũi Né, Hòn Rơm, Bàu Trắng, giờ còn lằng nhằng lẩu cá kem ly, rõ khổ. “Quê hương là chùm khế ngọt, cho con trèo hái mỗi ngày…”, nghĩ thế cho nó vui. Về đến khách sạn, đặt lưng xuống giường mới thấy mình ngớ ngẩn…
Chuyện dọc đường khi đục khi trong, mắt trần khó biết. Để vượt qua mọi ưu phiền, cách hay nhất là đừng giữ nó làm gì. Cũng đừng nghĩ mình là thánh thiện để phiền trách chuyện bất bằng. Đâu rồi vào đấy, chẳng gì mất chẳng gì được. Sở dĩ mình mất là do mình giữ (được) quá nhiều. Cũng may mình chẳng là người của thương trường, chẳng là người có sứ mạng gánh vác xã tắc sơn hà, chứ rơi vào ngôi vị ấy thì không biết mình sẽ ra sao. Trong lúc lan man như vậy tôi đã chạy mấy vòng khu phố cổ Bao Vinh.
Bao Vinh là khu phố cổ mà ít người để ý, bởi hầu hết nhà cửa đã sửa sang, tuy không to lớn nhưng cũng đã xóa mờ gần hết nét xưa. Người gốc Bao Vinh vẫn còn nhớ câu truyền khẩu:
Bao Vinh cao bơợc hỏng bờ,
Ghe mành tới đậu, mẹ nhờ duyên con.
Phố Bao Vinh chỉ một đoạn từ cầu xuống cống (Bao Vinh), qua bên kia cống là Địa Linh. Thời Pháp thuộc, chính phủ thuộc địa xây nhiều Ki ốt (Kiosque) dọc theo bờ sông, nền trên cọc bê tông như “ke” cầu tàu, thương nhân thuê ki ốt mở cửa hàng. Cách năm mười ki ốt lại có một bến cho thuyền bè vào ra mua bán. Câu ca dao trên hàm ý: Nhà buôn nhờ duyên (vẻ đẹp) con gái mà đắt khách.
Khoảng giữa phố Bao Vinh, vài ba mái nhà cổ phía nhìn ra bờ sông, phía kia xưa là ki ốt, nay nhà phố nối dài, chỉ còn một bến đò đối diện chợ Bao Vinh. Một hai ki ốt bị che lấp gần hết, chỉ thấy chóp mái thôi. Nếu ngồi thuyền nhìn từ ngoài sông vào sẽ thấy rõ “bơợc bờ” ngày xưa, và vẻ đẹp chính của Bao Vinh là đây. Bao Vinh không còn cổ mà cũng chẳng được mới, nó làng nhàng, nhà cửa đường sá chắp vá chỗ thiếu chỗ thừa. Bao Vinh có ngôi đình xưa, di tích được công nhận nhưng như đình bỏ hoang, không cổng ngõ, đình có mấy gốc bồ đề cỗ thụ đẹp.
Xem chừng đã đến giờ tôi quay lại, thấy hai bạn đang chờ. Chúng tôi bước qua quán bên kia đường, quán nhỏ thân mật. Trong lúc ăn uống tôi hỏi thêm về đình Bao Vinh, anh bạn ôi da một tiếng và buông xuôi: “Ai mà lo chuyện nớ, nghe nói hai cây bồ đề nay mai sẽ đào bán cho khách sạn mấy chục triệu đó”. Cũng không trách, đổi mới thì phải thế, kinh tế thị trường, cái gì có lợi cứ việc làm. Thiếu gì những công trình bạc tỉ chỉ để thử nghiệm. Có làm tất có sai, sai thì sửa, chẳng việc gì.
Đất lề quê thói, vịt gà ngoài món luộc nướng, xé phay bao giờ cũng đi kèm thêm cháo. Cháo chỉ để ăn đệm nhưng với tôi phải có, nó như món làm nền, thiếu đi bụng dạ cứ như đường rải đá không nhựa. Các bạn cũng hiền, người vài ba chai đủ hâm nóng chuyện xưa tích cũ, đủ cho một buổi chiều đậm đà trôi qua.
Tháng 9 - 2010
(1). Nghe nói trong thời kỳ căng thẳng giữa Mỹ và Irak, anh bị bắt. Sau giả thường dân trốn về được, nhưng khi xuống phi trường Lax có FBI chờ sẵn đón anh. Anh trở lại làm thường dân rồi ngao du suốt mùa.