Dạo này trong Khu Bài Lao lại nổi lên dư luận " Bác sĩ
Huy thất tình". Hai người y tá đang trao đổi chuyện "thời sự" ở
cuối hành lang :
- Chị có thấy ông Huy nhà mình cứ ngơ ngơ ngẩn ngẩn không?
- Không tự tử là may !
- Sao vậy ?
- Bị cho leo cây chứ sao. Ai biểu dại gái, con
nhỏ Thảo ghê lắm bồ ơi.
Vừa lúc, Hiền, bạn
Thảo đi qua, nàng góp chuyện :
- Mấy chị không biết đâu, ly kỳ lắm.
- Chuyện làm sao, nói cho bọn này nghe với.
Hiền kể cho hai
người nghe rành mạch diễn biến mối tình như chính mình là người trong cuộc.
Hiền kết luận:
- Bên tám lạng bên nửa cân, không ai kém ai,
nghĩa là một canh bạc huề.
Thế nhưng, dư luận
vẫn cho rằng bác sĩ Huy thua đậm. Ra khỏi sòng bạc mà người như mất trí thì rõ
ràng là cháy túi rồi.
Sau khi đánh điện
báo Nam biết Má đã về nhà, Thảo viết thêm một lá thư dài, ý chính là nàng muốn thu xếp mọi chuyện rồi
vào thăm Nam. Thảo chờ xem Nam trả lời thế nào. Đây là bài toán sẽ cho hai đáp
số. Nếu Nam không để Thảo đi, tức Nam có chuyện riêng tư. Ngược lại, Thảo có
dịp chứng tỏ tình yêu chung thủy của mình. Trong yêu đương lắm khi chỉ một sơ hở nhỏ cũng đủ làm sụp đổ cả lâu đài tình
ái đồ sộ nguy nga.
Bà Đàm sau mấy tuần
về nhà đã khỏe hẳn ra. Thảo rất yên tâm. Chỉ mỗi cái khó xử là khi gặp Huy ở
Bệnh viện, nhưng thỉnh thoảng thôi. Khu Tim trái đường với Khu Bài Lao nên hai
người ít đụng nhau. Coi như giông tố đã
dịu dần, cảnh vật từ từ trở lại bình thường. Tất nhiên là phải có sự hư hao mất
mát. Thảo biết Huy là người hứng chịu nhiều nhất. Đôi lúc Thảo cũng muốn làm
cái gì để chia sẻ sự mất mát đó với Huy. Nhưng, chuyện tình không như chuyện
buôn bán nên khó làm một việc ý nghĩa cụ thể. Thời gian là phương thuốc hay
nhất để làm lành vết thương lòng. Thảo thấy tốt hơn, hai người nên tránh gặp nhau.
Nhận được thư Nam,
Thảo vui hí hửng. Nam đã vạch cho nàng một chương trình trong dịp lễ phục sinh
sắp tới. Ngày lễ rơi vào thứ hai, họ xin phép nghĩ sáng thứ bảy, tức được ba
ngày. Nam sẽ đón Thảo tại ga Đà Nẵng, rồi đi chơi núi Ngũ Hành...thăm phố Hội
An. Thảo rất bằng lòng, Thảo xin nghỉ bệnh thêm ngày thứ ba để được thong thả
hơn.
Sáng thứ bảy Thảo
lên ga sớm, trong khi xếp hàng chờ lấy vé, bao nhiêu người qua lại nhìn trộm
nàng. Thảo thùy mị mà kiêu sa trong tà áo tím. Mặc dầu không nhìn lại, Thảo
biết hết những ai nhìn mình. Nguyên cả nhà ga chỉ có mỗi chiếc áo dài tím, làm
sao mà thiên hạ không bị thu hút. Lên tàu, Thảo tìm một chỗ ngồi cạnh cửa sổ,
vừa thoáng vừa dễ ngắm cảnh vật bên ngoài.
Tàu chạy một lát thì
nhân viên đi soát vé. Hàng ghế ba người, hai người ngồi ngoài, anh nhân viên
chỉ liếc sơ, đến Thảo, anh cứ cầm vé nhìn
lui nhìn tới, không chịu trả. Thảo biết ông này kiếm cớ nên hỏi xẳng một câu:
- Vé giả hay sao vậy chú?
Anh nhân viên đỏ
mặt, trả vé, bỏ đi một lèo. Đi chơi với nhau một ngày, thấy ngày qua mau như chớp, ngồi tàu ba tiếng đồng
hồ, lâu ơi là lâu. Thảo giết thì giờ bằng cách ngắm cảnh, không bỏ sót thứ gì,
từ cây cỏ bên đường đến làng mạc xa tít ở chân trời. Lúc tàu qua đầm Đá Bạc,
Thảo nhìn mấy chiếc thuyền mỏng manh nhấp nhô giữa trời nước mênh mông, một sự
liên tưởng đến thân phận người con gái làm cho Thảo rùng mình. Qua đèo Hải Vân,
trời quang đãng hơn, ấm hơn. Cách nhau chỉ một con đèo mà khí hậu sai biệt thấy rõ. Bên nắng bên mưa, đến cả giọng nói
cũng khác. Người Huế nghe giọng Đà nẵng thì lắm khi không nhịn được cười. Người
xứ Quảng nghe giọng Huế thì không hiểu họ nói chi.
Nghĩ đến lúc gặp Nam,
Thảo vừa vui vừa hồi hộp. Thảo mở túi
xách lấy chiếc gương nhỏ, trang điểm lại đôi môi. Tàu từ từ vào ga, tim Thảo
càng đập mạnh. Thảo tự cười mình: "Làm như về nhà chồng". Thảo nhường
cho mọi người xuống trước. Điều kỳ cục là người ta, những đàn ông, thanh niên,
cứ rề rề bên Thảo chứ không chịu đi. Thảo
nhìn qua cửa sổ xem Nam đứng đâu. Lướt qua một lượt không thấy Nam, rà
lại cũng không thấy. Thảo lo lo, hay có chuyện gì. Khách xuống đã hết, Thảo
đành xách hành trang đi về phía cửa tàu. Thảo toan bước xuống thì thấy Nam đang nháo nhác ngóng cổ tìm. Thảo
dừng lại xem Nam làm gì, chàng chạy lui chạy tới dòm ngó các toa. Thảo vừa buồn
cười vừa thương. Thảo bước xuống sân ga, giả vờ như vô tình đi về phía Nam. Lúc
nhận ra Thảo, Nam chạy ào tới, toan ôm Thảo, nàng kịp đưa cái túi xách lên chận
lại. Nam thở hổn hển, phân bua :
- Anh bị trễ xe, tìm hoài không thấy em đâu.
Mặc áo đẹp vầy sao em không báo cho anh biết trước?
- Em muốn thử cặp mắt anh.
- Dễ sợ, vừa thôi nghe. Bây giờ mình ra ngoài
ăn trưa rồi tính. Em có mệt không?
- Không mệt mà thấy lâu quá, ngồi một chỗ đơ
cả chân.
Nam tay xách đồ tay
dắt Thảo ra khỏi ga.
- Anh thả tay em ra kẻo người ta nhìn, kỳ lắm.
- Kỳ gì, nắm tay mình chớ tay ai mà kỳ ?
- Thôi ông ơi !
Tuy nói thế, Thảo
vẫn để Nam nắm tay dẫn đi. Lòng thấy hay hay, tưởng như mình còn bé dại. Nam
đưa Thảo đến một hiệu ăn tương đối sáng sủa để Thảo có chỗ rửa mặt và trang
điểm. Thảo nói:
- Anh kêu món ăn, em đi rửa mặt. Anh ăn gì em
ăn nấy.
Những lời của Thảo
ngọt như nước Cam Lồ, tâm hồn Nam lâng lâng một niềm vui khó tả. Nam nghĩ, Trời
sinh người đàn bà thật kỳ diệu, vừa gây
cảnh ba đào nhưng đồng thời cũng mang dịu ngọt đến cho cuộc đời vốn nhiều đau
khổ đắng cay. Không có đàn bà, trái đất toàn một màu xám tro. Lúc Thảo trở lại
bàn, phổ ky đã mang lên hai tô mì vịt tìm đang bốc khói. Trong khi ăn Thảo hỏi Nam:
- Anh có trông em không?
- Không thấy em anh đã muốn hoảng lên rồi.
- Anh,
màu áo tím có đẹp không?
- Tuyệt trần. Màu áo làm cho đôi má em thêm
hồng. Em không biết chớ nhiều người nhìn em lắm.
- Anh có tức không ?
- Anh hãnh diện.
- Hãnh diện chớ không ghen hả?
- Có được một người yêu đẹp như em mà hay ghen
là khùng. Qua bao nhiêu trận cuồng phong
rồi, em có ngã đâu.
Thảo cười tỏ vẻ hài
lòng. Nam đã không nhìn nàng cách tầm thường. Nàng cho đây là điều quan trọng
trong hạnh phúc lứa đôi. Nếu cứ mỗi chốc mỗi ghen, thì yêu nhau, hóa ra nô lệ
nhau. Cuộc tình trở nên nhàm chán. Yêu nhau mà canh gác nhau suốt đời thì có
khác gì làm công việc của cai tù. Ra
khỏi tiệm, Nam hỏi:
- Em đi chơi Non Nước mấy lần rồi ?
- Non Nước em biết rồi, mình đi Hội An.
Thực tình Thảo không
muốn lẩn quẩn những nơi cứ gợi lại chuyện đã làm cho Thảo buồn khổ trước kia. Nam
chở Thảo ra bến xe đi Hội An. Chiếc xe đò Renault cũ kỹ đã đầy người. Thảo Nam
cố chen vào, mấy bà già ngồi nhích lại, nhưng cũng chỉ đủ cho một người. Nam
đành đứng lom khom giữa những gánh gióng, hàng hóa lổn chổn. Vào đến Thanh
Quýt, người khách ngồi cạnh Thảo xuống xe, Nam điền vào. Nam quay qua định nói
chuyện với Thảo thì nhận ra Thảo có vẻ mệt lắm, như người bị say sóng.
- Em mệt phải không, chắc không quen ngồi xe.
Bác tài này chạy không êm, cứ thắng nhắp miết, làm người ta chóng mặt.
Thảo không nói gì,
tựa hẳn người vào Nam. Vô đến Vĩnh Điện ông khách ngồi đối diện xuống, Thảo thở
phào và ngồi ngay ngắn lại.
- Em khỏe chưa ? Bận sau đi, nên có thuốc say
sóng. Tay em lạnh lắm. Để anh bóp một lúc cho ấm.
Từ Vĩnh Điện về Hội
An xe rộng rãi. Thấy Thảo tươi tỉnh lại Nam hỏi:
- Lúc nãy em như người trúng gió. Em thấy
trong người thế nào?
- Không sao, thỉnh thoảng em hay bị như vậy.
Nam lo lắng:
- Có lẽ em nên đi khám bác sỹ, anh nghi em
thiếu máu.
Thấy vẻ lo lắng của Nam,
Thảo ái ngại và càng thương Nam. Nam là người đi ngoài ánh sáng còn Thảo lẫn
khuất trong bóng tối của u ẩn. Thảo thường xuyên bị ám ảnh bởi những gì gợi lại "biến cố" Sơn Chà.
Lúc lên xe, nàng đã bắt gặp gã đàn ông
năm xưa ngồi đối diện. Thảo choáng váng mặt mày suýt hét lên. Thảo đã nhiều lần
tìm cách giải tỏa mặc cảm tội lỗi, nhưng "nó" như căn bệnh mãn tính,
không triệu chứng báo trước khi lên cơn. "Nó" xuất hiện bất cứ lúc
nào, "nó" đã làm cho Thảo nhiều lần muốn ngã quị. Chỉ còn mỗi cách
chính Nam tự khám phá "nó" nơi cơ thể nàng. Đi thăm Nam chuyến này
Thảo muốn thực hiện ý nghĩ đó. Nàng đã trao trọn trái tim cho Nam rồi thì
"còn một chút này" há lại tiếc chi. Thảo cho đó là cách minh oan hay
nhất. Nghi án đã xóa, Thảo sẽ không còn bị ám ảnh bởi mặc cảm làm khổ nàng lâu
nay.
Hai người xuống xe
đầu lối vào Chùa Cầu, rồi thong thả đi bộ vào phố. Qua Chùa Cầu, Thảo ngạc
nhiên hỏi Nam về sự tích và cách thờ phượng trong chùa.
- Chùa mà không giống chùa như mình thường
thấy anh há.
- Chùa do người Nhật làm nên khác với nét chùa
Việt Nam.
- Sao hai bên có tượng chó và khỉ hả anh?
- Ý nói
thời gian làm chùa mất ba năm. Từ năm Thân (Khỉ) đến năm Tuất (Chó).
Nhà cửa phố Hội hầu
hết làm theo lối xưa, rất hiếm thấy ở Đồng Hới. Mái ngói âm dương, cửa bàn
khoa. Đời sống ở đây cũng khác xa với Đà Nẵng, êm đềm và tĩnh lặng, không có
cái không khí ồn ào tất bật của một nơi đô hội. Cảnh vật làm Thảo ngạc nhiên
nhưng không xa lạ, một đời sống dễ gần, dễ quen thân. Đường phố hẹp không lề,
thềm nhà bước xuống là đường đi. Khách bộ hành cứ thong dong giữa đường, cảnh
không phải quê mà cũng không là thành thị.
Nam đưa Thảo đi một
vòng qua các phố rồi hai người vào một hiệu cao lầu. Trong lúc chờ thức ăn,
Thảo hỏi Nam:
- Anh,
mình còn hai ngày nữa, chương trình sao anh?
- Em muốn lên thăm trường anh không?
- Muốn, nhưng để chiều mai, tối nay mình ở lại
đây, anh thấy được không?
- Ý của em
thì còn chê chỗ nào !
- Thôi đi, cái gì anh cũng đẩy qua cho em hết.
- Thì em là nội tướng mà lại.
- Nội tướng mà không có quân lính thì làm gì?
- Em đừng lo, rồi đây lính ra ầm ầm tha hồ
giữ.
Thảo vừa cười vừa
lấy đũa đánh vào tay Nam:
- Ông đừng có yêu tinh nghe.
- Yêu em chớ bộ khùng sao yêu Tinh ?
- Anh cứ ưa bắt bí em, muốn em tức hả.
- Thôi, xin lỗi Hoàng Hậu, thức ăn có rồi kia.
Phổ ky bưng lên hai tô cao lầu nóng hổi, Thảo ăn ngon lành. Nam ăn từ từ
vừa nhìn Thảo.
- Huế không
có món này ?
- Cao lầu là món đặc biệt của Hội An.
Ra khỏi tiệm ăn, hai
người đi kiếm phòng trọ. Hội An là điểm du lịch, nhiều di tích lịch sử nhưng
thiếu phổ biến, hơn nữa lại trái đường nên dân chúng không mấy người để ý. Đi
xuống phía chợ, vòng ra bờ sông Thu Bồn, có một phòng ngủ tương đối tươm tất.
Hai người ghé vào. Thảo chọn một phòng
trên lầu, cửa mở ra đưòng Bạch Đằng, bao quát cả dòng sông. Không nói mà hai
người đều hồi hộp lúc được dẫn lên lầu nhận chìa khóa phòng. Đêm hôm đó Nam
Thảo như lạc vào một rừng hoang, trời đầy sao. Tâm hồn và thể xác rung lên theo
nhịp điệu của bản nhạc tình ấp ủ lâu nay.
Sáng hôm sau, Thảo
cho Nam xem một bức tranh vẽ một loài hoa rừng đang nở rộ, cánh hoa màu huyết
dụ. Thảo âu yếm nhìn Nam:
- Anh bằng lòng không.
Nam cầm đôi bàn tay
Thảo và nói thật nhỏ:
- Em vô cùng tuyệt vời. Anh ân hận có lúc đã
...
- Đã sao anh?
- Có lúc anh đã nghi ngờ lòng chung thủy của
em.
- Vậy từ nay em cấm anh không được lừng khừng
vẩn vơ nghe chưa. Riêng em, sẽ không bao giờ ngất xỉu hay trúng gió nữa vì tất
cả em đã trao cho anh. Em không còn gì để lo lắng nghĩ ngợi nữa.
Tuy nói thế nhưng
khuôn mặt của thảo vừa thoáng một chút buồn xa vắng như cảnh chiều hôm có lớp
sương mờ nhè nhẹ.
Hai năm sau, Nam
được thuyên chuyển về dạy trường Phú Mỹ, cách nhà một khoảng không xa. Thảo vẫn
nhiệm sở cũ. Bác sĩ Huy được đồng hoá cấp bậc Đại Úy Quân Y, phục vụ tại một
đơn vị trong Vùng 4 Chiến Thuật. Bà Nhiêu bỏ nghề nấu rượu. Bà đã có cháu nội,
suốt ngày bà cháu hủ hỉ với nhau.
Một buổi chiều cuối
tuần, Nam Thảo ngồi trước thềm nhà, Thảo chợt hỏi :
- Anh, một cơn lũ đi qua thường để lại những gì
hả anh ?
Hết